Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

FW: Jacaranda một trời hoa tím

Áo Tím ngày xưa tím ngát  lòng 
Giờ chừ thấy Tím vẫn thương mong 
Em ơi thuở ấy yêu màu Tím

Biết mấy buồn đưa em lấy chồng

Rời xa Việt Nam đến một mảnh đất xa xôi khác. Cứ tưởng sẽ không còn thấy được cái màu tím yêu thích từ thời còn cắp sách đến trường, ngắt vội vài cánh hoa bằng lăng tím dung để ép khô. Mùa đông lạnh lẽo nước Úc rồi cũng trôi qua nhanh mang theo một mùa xuân mới đến…cũng là lúc màu tím của Jacaranda khoe sắc.

tim1

Jacaranda theo cách gọi của người Việt chính là hoa phượng tím. Nhưng khác với Việt Nam, khi hoa phượng nở đỏ rực là lúc mùa hè đến, thì ở Úc Jacaranda như một loài hoa báo hiệu mùa xuân đã về. Mỗi khi mùa xuân đến, cả một vùng rực rỡ trong ánh tím đẹp đến mê hồn người.

tim2

tim3

tim4

Cũng có nhiều người lại ví von loài hoa này với bằng lăng tím, nhưng chỉ có điều mỗi khi nở rộ, lúc ấy chỉ thấy toàn hoa là hoa không thấy lá đâu. Cả một thành phố chỉ thấy một màu tím của Jacaranda.

tim5

Dọc hai bên đường đi lúc ấy cũng chỉ một sắc tím bao bọc hết cả một khoảng trời  tỏa mùi hương ngào ngạt . Không những vậy, cánh hoa rơi rụng còn tạo thành những thảm hoa đẹp đến ngất ngây.

tim6

tim7

tim8

Khác với nhiều nơi trên Thế giới, Úc nằm ở Nam bán cầu nên bốn mùa xuân hạ thu đông lại trở nên ngược với Việt nam hay các nước châu Âu, Mỹ ở phía Bắc bán cầu. Vì thế, nếu muốn được thưởng thức , chiêm ngưỡng vẻ đẹp của loài hoa này bạn nên chọn đi vào tháng 9, 10, 11 vì đây là những tháng mà Jacranda nở rộ đẹp nhất.

tim10

tim11

Su hào xào nấm – Tuệ Lan

IMG_4249

Su hào là rau mùa đông càng gặp lạnh su hào càng chắc và ngọt. Lựa củ su hào non xào thì tuyệt vời. Nói cho sang vậy thôi chứ TL đâu có quyền lựa chọn. Ở Sing hiếm khi thấy su hào, nếu có thấy thì là những củ bé tí teo. mốc meo và có lẽ thu hoạch cả tháng mới tới tay người tiêu dùng. Mùa này VN bắt đầu có su hào, mỗi khi có người qua Sing mẹ đều gửi cho TL.

Bình thường su hào cắt sợi xào không cũng ngọt rồi, nếu không kiêng trứng lúc su hào chín đập một cái trứng vô cũng ngon lắm. Bữa nay TL còn một cây nấm king oyster nên cũng cắt sợi bằng cỡ với su hào, xào chung ăn ngon tuyệt. Vị ngọt của nấm tiết ra thấm vô su hào, chỉ cần nêm một chút xíu bột nêm chay nữa là hoàn hảo. Trước khi tắt bếp nêm hành lá và ngò rí cắt nhuyển để món xào có mùi thơm.

Su hào xào ăn chung với rau sống và rau thơm rất bắt.

Các bạn có làm gỏi su hào bao giờ chưa? Món gỏi su hào cũng hấp dẫn. Khi nào có nguồn nguyên liệu được tiếp tế TL sẽ chia sẻ với các bạn món gỏi này nhé.

Chúc các bạn luôn hoan hỷ khi nấu các món chay và ăn chay nhé.

Tuệ Lan

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

FW: Hởi những ai đang thấy mình buồn chán hãy suy ngẫm về bức ảnh này!

Khi Cửa Lòng Chưa Mở

Trên bãi rác mênh mông

Kathmandu,Népal

Anh ôm em trong lòng

Ngồi ngó mông vô vọng

Bãi rác rộng mênh mông

Thế giới rộng mênh mông

Hai bé thơ thiếu đói

Chỉ một miếng ăn thôi

Mà_ngày có, ngày không!

Lòng bác ái đi rông

Trước cảnh đời lậnđận?

Lòng từ bi có động

Giữa ác mộng bé thơ?

Ôi chùa chiền hoành tráng

Ôi ngất ngưỡng nhà thờ

Cửa Thiên Đường khép kín

Lối Cực lạc mù mờ

Khi bé thơ ngồi đó

Giữa đống rác bơ vơ!!!

HNL

Bức ảnh gây xúc động!!!!

Ngẹn ngào bức ảnh anh ôm em trên bãi rác

Hình ảnh người anh bế em mình ngồi trên bãi rác, nhìn vào khoảng không tuyệt vọng khiến mọi người không cầm được nước mắt.

Hai anh em ôm nhau thật chặt, đang cùng tìm sự sống trong nỗi tuyệt vọng trước bãi rác thải mênh mông ở Kathmandu, Nepal. Bao trùm lên nét buồn thảm của hai anh em là không khí ô nhiễm, ảm đạm, thiếu hơi thở của sự sống ở vùng Kathma này.

Bức ảnh từng lọt vào Top 10 bức ảnh ấn tượng nhất thế giới năm 2011, và đang được lan truyền nhanh chóng trên mạng với thông điệp: “Sống chậm một chút, làm việc chậm một chút, yêu thương nhiều một chút để thấy rằng cuộc đờii này không trôi qua một cách vô nghĩa. Đôi khi bạn chỉ cần nhắm mắt lại, chỉ vài phút thôi, bạn cũng có thể cảm nhận được ý nghĩa cuộc sống. Đôi khi bạn chỉ cần ngừng chạy, chỉ vài phút thôi, bạn có thể cảm nhận được nhịp điệu cuộc sống…”.

Nhiếp ảnh gia Hồng Kông, Chan Kwok Hung tâm sự, hai anh em trong bức ảnh này đang sống cùng bà ngoại ở khu vực gần đó. Hằng ngày người anh cõng em đi tìm trong đống rác khổng lồ, cố gắng tìm ra những vật hữu ích có thể bán được để mua thức ăn sống qua ngày.

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Nhiều điều về kê (millet) và chè kê (millet pudding)

Millet

Kê là một loại hạt cỏ, được trồng nhiều ở Châu Á và Châu Phi.  Hạt kê có nhiều loại, có loại màu gần như trắng, có loại màu vàng, có loại màu nâu, màu xám, màu xanh hay màu tím. Ở Châu Á thì có lẽ kê màu vàng là được biết đến nhiều nhất. Kê vàng còn được gọi là Hoàng Lương, ngày xưa nhà nghèo thường hay nấu thay cơm. Chuyện kể rằng ngày xưa có một thư sinh họ Lư đi thi không đỗ. Trên đường thiu thỉu về nhà anh ta ghé vào quán trọ để dùng cơm và nghỉ chân. Một vị đạo sĩ biết được tâm trạng của anh nên cho anh mượn cái gối kê đầu ngủ trong khi chờ chủ quán dọn cơm. Trong giấc ngủ anh ta mơ thấy mình thi đỗ làm quan và được nhà vua gả con gái cho. Anh trải qua hơn hai mươi năm hưởng bổng lộc triều đình sống trong nhung lụa, vinh hoa phú quí, vợ đẹp con xinh. Đến khi thức giấc thì than ôi, đó chỉ là một giấc mơ, nồi kê người chủ quán nấu còn chưa kịp chín. Từ đó, khi nhắc đến Giấc Mộng Hoàng Lương thì rất nhiều người biết đến câu chuyện này.

Truyện Kiều cũng có đề cập đến:

Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai,
Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây?
Bàng hoàng giở tỉnh giở say,
Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu.
A hoàn trên dưới giục mau,

Cổ thi cũng có câu:

Trăm năm một giấc kê vàng

Nhà Phật cũng có bài thơ:

Giấc mộng kê vàng mấy trăm năm
Lầu vàng gác ngọc thấy toàn chân
Phú quý vinh hoa cao tột đỉnh
Khoái lạc nghìn muôn nhất trên trần
Gà gáy ngoài hiên trời hừng sáng
Giật mình tỉnh giấc ngủ say nồng
Nhìn lại đầu còn kê trên gối
Mới biết vì mê lạc phong trần
Đã thức, khéo mau quay gót lại
Cha già mong trẻ đã bao năm
Tay vàng chờ đón con thơ dại
Bỏ mộng lìa mê đến lạc thành

Chắc mình nên ăn kê thường xuyên để nhớ rằng đời là một giấc mộng, chẳng có chi là thật cả, hãy mau mau tỉnh mộng, cho dù giấc mộng có đẹp dường nào đi nữa thì chúng ta cũng không nên mê đắm, vì nó đâu có thật đâu mà mê làm gì.

Dinh dưỡng

Kê không những ăn ngon mà còn có giá trị dinh dưỡng rất cao. Kê có tên tiếng Anh là millet, giàu sinh tố B, đặc biệt là niaci (B3), B6 và folic acid, calcium, iron, potassium, magnesium, và zinc.

Ăn 1 cup kê chín, mình có được 19% lượng magnesium trong ngày. Magnesium có khả năng làm giảm mức độ nghiêm trọng của bên bệnh suyễn, chứng  đau nửa đầu, áp huyết cao, và nguy cơ đau tim. Còn B3 có thể làm giảm lượng máu mỡ. Ngoài ra lượng phosphorus có trong kê cũng giúp phần quan trong trong việc cấu trúc tế bào và hệ thống thần kinh. Một cup kê chín có đến 17% lượng phosphorus trong ngày. Kê cũng có khả năng làm giảm nguy cơ tiểu đường loại 2, giúp ngăn ngừa sỏi mật. Chất xơ từ kê chống được ung thư vú…

Kê ở Mỹ có bán ở chợ Whole Foods hay trên mạng

 http://www.swansonvitamins.com/arrowhead-mills-organic-whole-millet-28-oz-pkg?SourceCode=INTL405&CAWELAID=1344501557&cagpspn=pla&gclid=CNDysYLlu7MCFQ-f4AodF2cAXg

http://www.vitacost.com/eden-foods-organic-millet-whole-grain-gluten-free?csrc=GPF-PA-024182021523&ci_sku=024182021523&ci_gpa=pla&ci_kw={keyword}&gclid=CJ7EpbTlu7MCFcuZ4AodN0wAoA

 

 

Cách nấu cơm kê

Để nấu kê như cơm, người ta cho 2 phần kê, 5 phần nước, nấu sôi từ 30 đến 35 phút.

Chè kê (Millet pudding)

cheke 021

Chủ nhật qua, nhân dịp có tiệc Halloween ở chùa, chị Thủy nấu chè kê mang đến, nhiều người thấy lạ, hỏi là món gì. Người Huế thì rất quen thuộc với món chè này, có người nói đã mấy chục năm rồi mới ăn được chè kê. Đây là lần đầu tiên DS ăn chè kê, bùi dẻo béo và thơm ngon lắm. Nấu món chè này cực ghê. Nghe chị Thủy nói nấu đậu xanh riêng rồi tán nhuyễn. Vo kê đến hơn 10 lần cho sạch cát đá, nấu đến 2 tiếng mới mịn. Xong hai thứ trộn lại cho nước cốt dừa và đường vào, thêm chút va ni. Người Huế không cho nước cốt dừa, nhưng chị Thủy thêm nước cốt dừa cho lai chè miền Nam.

Hôm nay DS tìm hiểu được nhiều điều về kê, mến chia sẻ đến các bạn. Chúc các bạn làm được thật nhiều món ngon từ kê.

Nam Mô A Di Đà Phật.

http://www.nuts.com/cookingbaking/grains/millet/premium.html?gclid=CKvC9qT3t7MCFUWo4AodKRQAzQ

http://vuhuu.edu.vn/null/Ebook/Dien_Tich/baiso3_11%20.htm

http://en.wikipedia.org/wiki/Millet

http://www.swansonvitamins.com/arrowhead-mills-organic-whole-millet-28-oz-pkg?SourceCode=INTL405&CAWELAID=1344501557&cagpspn=pla&gclid=CLuz0pf3t7MCFdKd4Aod4lYAKA

http://www.whfoods.com/genpage.php?tname=foodspice&dbid=53

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Lab Thái chay – Tuệ Lan

Lab Thái Chay

Lab là món ăn rất phổ biến của người Thái và người Lào. Người ta ăn lab chung với cơm nếp rất ngon. Món này rất dễ thực hiện, TL được chị bạn chỉ cho công thức, hôm nay làm thử và ăn thấy rất hấp dẫn nên chia sẻ cùng mọi người.

Đạm chay khô

Đạm vụn chay

Đạm vụn chay ngâm nước cho nở, vắt ráo xào với hành tím bằm nhuyễn. Nêm nếm bằng nước mắm chay cho hơi đậm đà. Cắt nhỏ húng lủi, ớt bằm nhuyễn và bào mỏng một củ hành tím trộn chung với đạm chay đã xào. Trước khi ăn trộn nước cốt chanh và một ít thính gạo. Dọn chung với salad hoặc bắp cải sống và đậu đũa. Ăn chung với cơm nếp, cơm trắng, cơm chiên gì cũng ngon. Hoặc ăn không như một món gỏi khai vị.

Yêu cầu thành phẩm: món ăn có vị đậm đà, chua, cay và mùi thơm của thính gạo.

Chúc các bạn ngon miệng với nhiều món chay ngon.

Tuệ Lan

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Tập Nghĩ Tốt Cho Người – Thích Thông Phương

thichthongphuongBuổi sinh hoạt đạo tràng hôm nay quý thầy sẽ cho quý Phật tử một bài tập để tu học, bài tập này có tựa là “Tập nghĩ tốt cho người”. Đây là một bài tập phải trui luyện suốt năm.

Tại sao chúng ta phải tập nghĩ tốt cho người? Vì người ta thường có thói quen thấy cái xấu mà ít thấy cái tốt của người. Nhất là khi đã có thành kiến với ai thì lại càng cố nhìn những cái xấu của người nhiều hơn, và khi đã ghét ai thì đến cái cửa, cái cổng cũng ghét luôn, nên người biết tu rồi thì phải tập nghĩ đến cái tốt của người khác.

I/ AI CŨNG CÓ TÁNH GIÁC

Đối với nhà Phật cho là con người ai cũng có Phật tánh, mà có Phật tánh tức là có tánh tốt. Chính cái tánh tốt, hay tánh giác đó là cái chân thật, là cái gốc của con người, còn cái xấu chỉ là cái tạm, nên chúng ta phải nhìn cái gốc chứ đâu thể nhìn cái tạm. Tức cái xấu là cái mê, mới huân vào sau này nên không phải là cái thật của con người.

Trong kinh, đức Phật nói rằng: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, tức là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có tánh giác. Và đó là lẽ thật mà chính Đức Phật, bậc giác ngộ thấy được rồi chỉ dạy lại cho chúng sanh. Như vậy, ai cũng đều có tánh giác hay là tánh Phật, và đó là tánh tốt, thì tại sao chúng ta lại không nhìn tánh tốt đó, không phát huy nó mà chỉ nhìn cái xấu?

Chính tánh Phật này là cái sẵn có trong tất cả chúng sanh, là chân lý bình đẳng thật sự. Nhưng chúng ta thì nhìn theo kiểu thông thường của thế gian, tuy cũng nói bình đẳng nhưng chưa thấy hết ý nghĩa bình đẳng. Còn chân lý bình đẳng này dù nam, dù nữ đều có Phật tánh như nhau, tức là Phật tánh không có tướng nam - nữ, cũng không có trẻ - già, lớn - nhỏ, ngu - trí v.v…

Người ngu, người trí cũng đều có Phật tánh như nhau; người đẹp, người xấu Phật tánh cũng như nhau; cho đến màu da chủng tộc v.v…, hay dù là người xứ này, người xứ kia, người văn minh, người thiếu văn minh, hoặc là người ở trong vùng sâu, vùng xa v.v… cũng đều có Phật tánh như nhau hết. Đó đúng là một chân lý bình đẳng thật sự, nhưng chỉ vì tập khí mê lầm của con người chúng ta nên Phật tánh bị che mờ không phát hiện được, nên chúng ta chỉ thấy tánh chúng sanh của nhau thôi.

Tánh Phật là cái gốc, cái sẵn nhưng chúng ta lại không thấy, không biết mà chỉ thấy tánh chúng sanh nên con người chúng ta thường sống với tánh chúng sanh, nhận tánh chúng sanh này là mình là ta, bởi vậy khi nghe nói đến tánh Phật thì thấy lạ. Khi học trong kinh điển hoặc nghe quý thầy giảng nói về Phật tánh thì chúng ta cũng tin, cũng biết là ai cũng có Phật tánh, nhưng thực tế thì thấy dường như xa lạ, đó gọi là mê. Và Phật nói cái mê này cũng không có thực, chỉ giống như chiêm bao.

Do chúng ta mệt mỏi rồi ngủ quên thành chiêm bao, tỉnh dậy liền mất nên nó không có thực. Thì cái mê này cũng vậy, nếu người giác ngộ thì cái mê này đi đâu? Nào biết nó đi đâu, vì nó tan mất, không có thực.

Trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy: “Chúng sanh ấy, Như Lai nói là không phải chúng sanh, ấy gọi là chúng sanh”. Mọi người nói là chúng sanh nhưng Như Lai thì nói chúng sanh tức chẳng phải chúng sanh, vì chúng sanh vốn không có thực. Chúng sanh vốn không cố định mãi mãi là chúng sanh, chỉ là cái tạm thời khi còn mê, nên gọi chúng sanh mà tức chẳng phải chúng sanh.

Thế nên, chúng sanh này có thể tiêu mất không còn, chính tánh Phật mới là cái không mất, không có gì phá hoại được. Mặc dù bị bao bọc bởi cái chúng sanh này nhưng không bị nó phá hoại; ngược lại cái chúng sanh này thì bị Phật tánh phá hoại, tức là giác ngộ Phật tánh rồi thì chúng sanh này tiêu mất. Chính cái hy hữu như vậy mà chúng ta lại bỏ quên, lo sống với cái tạm thời, nên mỗi người cần phải nhìn ngược trở lại để chuyển cái thấy chúng sanh và thấy rằng nơi tất cả chúng sanh đều có cái nguồn Phật tánh chân thật, sáng suốt tức là cái tánh tốt lành.

Ngày xưa ông Ương-quật-ma-la, là một tên giết người rồi lấy ngón tay xâu thành chuỗi, thì tội ác lớn đến chừng nào? Tạo nghiệp ác như thế nào? Nhưng khi được Phật hóa độ thì ông tu chứng quả A-la-hán ngay trong hiện đời.

Trước kia ông là tên cướp giết người, sau khi giác ngộ xuất gia tu theo Phật chứng thành A-la-hán cũng ngay trong đời này. Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng tánh chúng sanh đâu có thực, nếu thực thì ông Ương-quật-ma-la không thể thành A-la-hán. Mới đó là tên sát nhân, nhưng khi thành bậc A-la-hán rồi thì gọi là thánh nhân. Phàm Thánh ngay đó thôi!

Như bà Liên Hoa Sắc là một kỹ nữ mang nhiều nghiệp xấu, khi được Tôn giả Mục-kiền-liên giáo hóa đưa đến diện kiến Phật, bà thức tỉnh rồi xuất gia và tu chứng A-la-hán cũng ngay trong hiện đời. Như vậy cái tên của người đàn bà làm nghề kỹ nữ xấu xa đó còn không? Đã thành bậc thánh nhân rồi.

Sơ Tổ Trúc Lâm nói trong bài kệ Cư Trần Lạc Đạo Phú, cóù câu: “Trong nhà có báu thôi tìm kiếm”. Tức Ngài nhắc là mỗi người đều có của báu quý trong nhà. Nhà đó là nhà gì? Tức là nhà ngũ uẩn hay con người này, nơi đó mỗi người đều có một hòn ngọc báu quý vô giá tức là tánh Phật, khỏi phải tìm đâu xa, ngay trong nhà của mỗi người đều có đủ. Người biết khai thác lấy ra dùng thì chuyển nghèo thành giàu, hết đời chúng sanh lang thang.

Thiền Sư Bàn Khuê dạy chúng rằng: “Từ khởi thủy, lúc mới sinh ra tất cả quý vị không ai có một thứ si mê nào, nhưng vì giáo dục xấu nên quý vị đã chuyển cái tâm Phật gọi là bẩm sinh thành ra một chúng sanh mê muội thượng hạng, bắt chước và thâu nhận vào đủ loại si mê xung quanh mình, tập tành những thói hư tật xấu đến nỗi cuối cùng trở thành một cây vô minh”. Tức là đang sẵn có cái tâm Phật bẩm sinh mà không xài, không dùng lại chuyển nó thành một chúng sanh mê muội thượng hạng, lại còn bắt chước, thâu nhận vào đủ thứ si mê xung quanh.

Thử nghĩ từ nhỏ đến lớn quý vị đã thâu vào những thứ gì? Nhờ có học Phật nên chúng ta mới bớt ra nếu không biết tu thì còn thâu thêm nữa. Chúng ta đã thâu vào những thứ si mê, tập theo những thói hư, tật xấu đến nỗi cuối cùng trở thành một cây vô minh. Mà hễ cây vô minh thì nó nở trái gì? Nở trái vô minh, nhưng vẫn không hay không biết.

Ngài bảo tiếp: “Chính vì tâm Phật nó có công năng kỳ diệu đang vận hành nên quý vị mới thâu thập được đủ thứ hành vi mê muội, rồi khiến chúng trở thành cái bản chất thứ hai của mình”. Tức là thấy nó là mình, của mình cho nên gọi thành bản chất của mình. Khi quý vị sân thì nói tôi sân. Tham nói tôi tham v.v…, gọi thành bản chất của mình. Nhưng tôi là những thứ đó hay sao?

Ngài bảo: “Tuy nhiên khi nghe được những giáo lý quý báu về tâm Phật này thì quý vị phát khởi niềm tin và quyết định không còn si mê nữa, liền khi ấy quý vị đã an trú trong tâm Phật bất sinh như nguyên ủy”. Tức là an trú trở lại tâm Phật sẵn có, không nhận cái vô minh kia thì mình sống trở về lẽ thật sáng suốt xưa nay.

“Như thế, chính vì tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu mà quý vị đã bị mê mờ, và cũng vì tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu mà quý vị được giác ngộ”. Chính vì nó có công năng kỳ diệu tức là nó có biết nhưng tự bỏ quên thành mê, biết cho nên mới mê (tức biết theo duyên theo cảnh mà quên chính nó). Thí dụ cái cây đâu có biết mê, hòn đá đâu có biết mê, nhưng vì có tâm, có biết cho nên nó mới thành mê.

Nhưng nhờ cũng có biết cho nên mới giác, nên cái tính biết là cái chúng ta phải khéo hiểu để nhận ra.

“Chính vì quý vị không nhận ra sự quý báu của tâm Phật nên quý vị xem những thứ si mê đang làm hại mình là vô cùng quý giá”. Xem những thứ si mê đang hại mình lại là thứ quý giá trong đời mình. Quý vị thấy có điên đảo không? Như bây giờ bảo chúng ta dẹp cái tánh sân thì chịu dẹp không? Nó thành cái bản chất thứ hai của mình rồi, dẹp nó rồi mình thành cây đá sao, nên không dám dẹp nó.

Ngài nói tiếp: “Xem nó thành ra là vô cùng quý giá, và quý vị xem trọng cái mê lầm này đến nỗi quý vị thành một cây vô minh, vứt bỏ cuộc đời của mình thì có phải là điên rồ hay không?”. Đức Phật nói si mê là điên đảo thật sự đúng nghĩa. Những thứ không phải mình cứ đem vào, nhận nó là mình, thành bản chất của mình, rồi không dám bỏ mà xem nó là quý báu. Chính nhờ học Phật, nhờ đức Phật chỉ cho chúng ta thấy những lẽ thật, những chân lý để chúng ta bớt mê lầm, sống trở về với cái sáng suốt.

Ở đây, Ngài muốn nhấn mạnh bản tánh chân thật của tất cả chúng ta vốn là thanh tịnh, là tốt đẹp, tức là tâm Phật; tức không phải là những thứ xấu xa này. Nếu người biết khai thác bản tánh chân thật tốt đẹp này, thì sẽ chuyển hóa những cái xấu xa đó trở về cái gốc chân thật. Đó chính là tu, tu Phật là như vậy. Cho nên, bản hoài ra đời của Phật là để khai thị cho tất cả chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, để thành Phật. Thành Phật là chuyển cái chúng sanh này không còn là chúng sanh nữa. Nếu được như vậy thì chúng ta ít có mặc cảm, bớt bi quan và thấy chúng sanh này, thế giới này rất lạc quan, vui vẻ, đó là do biết nhìn cái tốt; ngược lại nếu nhìn cái xấu thì sẽ thấy thế giới này đáng chán.

Kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã nhấn mạnh, nhắc đi nhắc lại nhiều lần để đánh thức mọi người nhận ra lẽ thật đó. Vì thế, Bồ-tát Thường Bất Khinh gặp ai cũng lễ bái, rồi nói to: “Tôi không dám khinh quý ngài, quý ngài đều sẽ thành Phật”. Bởi quý ngài đều có tánh Phật thì quý ngài đều sẽ thành Phật, tức là đánh thức tánh Phật nơi mỗi người. Các vị Bồ-tát thấy rõ lẽ thật đó nên luôn thức tỉnh giúp tất cả mọi người chuyển tánh chúng sanh thành tánh Phật.

Quý vị nhớ kỹ, nhờ thức tỉnh mà con người sẽ chuyển được tánh chúng sanh thành tánh Phật, như vậy chúng ta sẽ nhận rõ thêm một điều nữa, tánh Phật và tánh chúng sanh là sao?

Đều là không tánh, tức là tánh không, không cố định. Tánh Phật cũng không ngoài chúng sanh mà có; cũng vậy, chúng sanh không không cố định mãi là chúng sanh. Nên chúng ta có thể chuyển chúng sanh thành Phật, vì cả hai đều là tánh không. Đó là điểm mà tất cả đều phải ghi nhận rõ để chúng ta chỉ nhìn chỗ tốt của mọi người, rồi mới có thể nghĩ tốt, thấy tốt về người.

II/ NHÌN CÁI TỐT CỦA NGƯỜI, QUÊN CÁI XẤU

Đây muốn nhắc tất cả rằng khi đã biết nhìn cái tốt thì sẽ quên cái xấu của người, nhưng thông thường thì chúng ta hay nhìn cái xấu. Bây giờ phải chuyển lại là thường nhìn cái tốt thì sẽ luôn nghĩ điều tốt cho người, tức là nhắm vào cái tốt của người để nhìn, như vậy sẽ khiến cho người phát triển cái tốt, mà phát triển cái tốt thì những người ấy sẽ chuyển bớt cái xấu, cái tốt càng phát triển thì làm mờ đi cái xấu, cái xấu càng bớt.

Như đã giải thích thì quý vị thấy rõ ai cũng đều có cái tốt để chúng ta nhìn, nhưng tại sao lại không nhìn? Đôi khi chúng ta nghĩ người đó đâu có tánh nào tốt mà chỉ thấy tánh xấu, là bởi vì chúng ta chỉ nhìn cái xấu của người.

Con người ai cũng đều có cái tốt, cho đến tên ăn trộm cũng có cái tốt nên không thể nói là hoàn toàn xấu. Thí dụ tại sao người đó phải đi lén lút ăn trộm tài vật của người? Họ vẫn biết ăn trộm là điều xấu, vì xấu cho nên phải lén lút, đã biết điều xấu tức là còn có chủng tử tốt. Nhưng vì nghiệp nặng che mờ, mất tự chủ, khiến dẫn đi trộm đồ vật của người. Giống như người uống rượu say mất sáng suốt, mất tự chủ nên dễ tạo tội ác.

Nếu nhìn theo tính tốt đó thì chúng ta cũng bớt ghét tên ăn trộm, nên chúng ta phải khơi dậy cái tính tốt để sớm phát huy thì sẽ bớt tính xấu, nhờ vậy những người ăn trộm mới có thể đi tu được.

Chúng ta đọc trong kinh thấy đức Phật độ người trộm cướp rất nhiều, và các đệ tử Phật cũng vậy. Sách Nho có câu: “Ẩn ác, dương thiện”. Tức là ẩn điều ác mà phô bày điều thiện. Nhưng chúng ta thì thích ẩn thiện dương ác. Những điều thiện của người thì che, những điều ác của người thì vạch bày ra, nhất là khi đã có thành kiến thì cứ tìm điều xấu của người đưa ra. Sách Nho dạy kỹ là phải ẩn ác dương thiện để phát huy điều thiện, càng phát huy điều thiện thì điều ác càng lui.

Có câu chuyện một anh trẻ tuổi nhưng làm ăn bị phá sản, sống nghèo thiếu lang thang. Một hôm, trên đường đi anh khát nước mới tìm chỗ xin nước uống. Anh vào nhà ông lão mù ở bên đường. Sau khi xin nước uống xong thì anh phát hiện một số tiền dưới gối của ông lão. Anh nghĩ ông lão mù sẽ không thấy rõ nên liền nhanh tay lấy bỏ vào túi. Khi vừa định đi thì nghe ông lão nói: “Ở trong cái ngăn kéo của tôi có mấy quả táo, anh hãy cầm lấy đi đường ăn đỡ khát”. Nghe vậy anh mới ngạc nhiên hỏi: “Lão tín nhiệm tôi như thế à? Lão không sợ tôi là người xấu hay sao?”.

Anh nghĩ vừa mới lấy túi tiền của ông mà ông còn mời và chỉ mấy quả táo ở trong tủ để ăn nữa, nên anh mới nói: “Lão tín nhiệm tôi như thế à? Không sợ lỡ tôi là người xấu hay sao?”.

Ông lão mù cười thoải mái nói: “Này anh bạn trẻ ơi, đối với sự tốt xấu của người khác ta không nên vội vàng phán đoán một cách tùy tiện. Giả sử cho họ là một người xấu đi nữa thì dù xấu thế nào cũng không đến nỗi không có thuốc chữa”. Ông lão này cũng là đặc biệt. Ông nói con người không nên tùy tiện phán đoán điều tốt xấu của ai cả, mà dù cho người ta có xấu cách mấy đi nữa cũng có thuốc chữa, ông có niềm tin như vậy.

Với tâm chân thành, trong sáng của ông lão giống như ngọn đèn soi thấu tận cõi lòng, chấn động trong nội tâm của anh này nên anh cảm động. Đây là điều không bao giờ anh nghĩ đến vì có người tin anh là người tốt. Tận thâm tâm anh nghĩ rằng nếu người khác đã tin ta là người tốt thì tại sao ta lại đi làm chuyện xấu!

Anh liền hối hận, nhẹ nhàng trả túi tiền lại chỗ cũ rồi chào ông lão đi ra, và cũng từ đó anh bắt đầu làm lại cuộc đời, nhờ học được bài học và ứng dụng nghĩ tốt cho người. Đối với bạn bè, đồng nghiệp, người hợp tác v.v… anh đều có tâm tín nhiệm, nên tạo thành một mối quan hệ tốt đẹp rộng rãi, anh được cảm tình rất nhiều người và không bao lâu anh tạo được sự nghiệp lớn trở lại.

Đây là bài thực tập “Tập nghĩ tốt cho người” của ông lão dạy cho chúng ta. Ông nghĩ không nên tùy tiện phán đoán một ai về điều tốt, điều xấu vì đó là hời hợt, mà phải nhìn sâu xa vì ông tin tưởng mọi người không có ai hoàn toàn xấu, và dù có xấu cách mấy cũng còn có thuốc chữa, tức là cũng còn có tốt; mà nhìn vậy là có lạc quan, có niềm tin, chính như vậy có khi làm cảm động cho người đối diện, giúp họ chuyển hóa theo. Thế nên, người thanh niên kia khi nghe đến đó thì thấy chấn động trong tâm, cảm được sự chân thành từ nội tâm của ông lão.

Đây là điểm quan trọng, là bài học cần thiết để chúng ta luôn nghĩ tốt cho người, để đánh thức hạt giống tốt trong mỗi người. Nghĩ tốt về người nào đó là đánh thức những hạt giống tốt trong con người đó, giúp họ phát triển những điều tốt, vẫn hay hơn là nghĩ xấu cho người. Khi bị người nghĩ xấu, theo tâm lý thì người ta càng bất cần rồi làm cho xấu thêm; còn nghĩ tốt là đánh thức những hạt giống tốt bên trong của người đó, giúp họ có niềm tin tiến lên.

Hòa thượng Tinh Vân (Phật Quang Sơn) có kể một giai thoại: Vào dịp tết, dân làng gồm già, trẻ, bé, lớn v.v… cùng dắt nhau lên núi để nhận quà từ chùa, đến mùa đông dịp cứu tế người nghèo, họ cũng dắt dìu gia quyến đến để lãnh nhận phần giúp đỡ. Nhận rồi là quay lưng về liền không nói được một lời cám ơn.

Một số nhân viên của Ngài thấy như thế cho là không hay nên thường kháng nghị lên Hòa thượng: “Những hạng người này không có lương tâm đâu Hòa thượng, họ chỉ biết là đến lấy bao bì lì xì, lấy quà tặng, họ được phần rồi thì coi như là xong, không nói được một câu tử tế mà còn đòi hỏi quá đáng, đúng là qua cầu rồi chặt cầu”.

Hòa thượng Tinh Vân khuyên: “Chúng ta không nên quơ đũa cả nắm, trong số những người ấy cũng có người tốt, huống nữa là những người hành Bồ-tát đạo thì không nên nhớ cái xấu cũ của người, bố thí thì đừng mong đền đáp. Nhìn họ vui vẻ, hỉ hả về núi là đã có kết duyên lành cùng với Phật, Bồ-tát thì chúng ta nên chúc phúc cho họ mới đúng”.

Ý Hòa thượng nói là người hành Bồ-tát đạo thì không nên nhớ cái xấu cũ của người, và bố thí đừng mong đền đáp. Như vậy là họ kết duyên lành với Phật cũng quý rồi, chúng ta phải giúp cho họ kết duyên sâu thêm chứ không nên nghĩ xấu rồi trở thành ngăn cách.

Quý vị phải nhớ điều đó, tinh thần của Bồ-tát là lòng rộng mở, khi thấy chúng sanh biết lên chùa gặp Phật là cũng có hạt giống tốt nên phải tạo thêm duyên để họ kết càng sâu. Đó gọi là nghĩ tốt mà quên cái xấu của người. Chính là điểm mà mỗi người phải luôn nhớ học, để cuộc sống chúng ta mỗi ngày càng tốt hơn, nội tâm càng chuyển hóa cao hơn. Những người kháng nghị kia do tâm họ còn so tính nên thấy việc lợi hại, và nếu chỉ nhìn theo cách ấy thì hết muốn làm việc bố thí.

Còn với Hòa thượng Tinh Vân thì không phải vậy. Tâm Ngài luôn cởi mở, rộng rãi nên dặn “không nên nhớ cái xấu cũ của người”. Điều này trong kinh Bát Đại Nhân Giác Phật có dạy là người học và tu theo Phật không nên nhớ những cái xấu đã qua của người v.v…, mà Phật dạy phải hằng nhớ lý vô thường và thương sự mê lầm của họ.

Thứ sáu giác rõ như sau:

                Là người nghèo khổ càng sâu oán hờn.
                Ác duyên ngang kết khó lường,
                Đâu như Bồ-tát sẵn sàng thí cho.
                Oán thân đồng chẳng so đo,
                Cũng không nhớ đến ác xưa người làm.
                Người dù tạo ác gây hờn,
                Cũng không ghét bỏ chỉ thương mê lầm.

Đức Phật dạy chúng ta tu phải quán chiếu từ hoàn cảnh bên ngoài đến thân tâm bên trong đều là vô thường, nếu người chỉ lo nhớ đến cái xấu của người, cho ai xấu thì phải xấu hoài thì trái với ý nghĩa vô thường. Ngày xưa, cách 20 năm trước họ đối xử với chúng ta xấu tệ nhưng bây giờ không hẳn là họ còn đối xử như vậy. Có khi họ đã học đạo và chuyển hóa rất tốt nên bớt xấu rồi nhưng chúng ta cứ nhớ lỗi xưa của người thành ra ngăn cách.

Cho nên, người tu Phật không thể cứ nhớ cái xấu cũ của người mà phải biết nó cũng là vô thường, tâm của người cũng vô thường. Trước kia vì họ không hiểu họ làm chuyện xấu, nhưng qua một thời gian họ đã có chuyển biến, đã hiểu được đó là điều dở, điều xấu nên chuyển hóa bớt rồi mà chúng ta không hay biết.

Còn đối với việc bố thí thì đừng mong đền đáp, khi thấy người khổ thì ta giúp đó là tốt, đừng mong trả lại. Nếu đã giúp người lỡ mai mốt gặp lại mình mà họ không chào hỏi thì buồn tức, cho là người vô ơn bạc nghĩa v.v… Chẳng lẽ chúng ta giúp người là vì muốn họ chào mình hay sao? Như vậy cũng còn có qua lại, giống như buôn bán rồi.

Ở đây đúng với tinh thần Bồ-tát là thấy họ khổ thì giúp họ bớt khổ, đó là trách nhiệm của người tu. Thứ hai, khi thấy họ vui là mình vui rồi. Thứ ba quan trọng hơn là chúng ta giúp người không điều kiện là hoàn toàn buông xả. Vì khi trao tặng người tài vật rồi thì tùy ý người nhận sử dụng mà không đòi hỏi phải theo ý mình. Đừng nhớ món đồ đó là của tôi hoài, tuy có xả nhưng chưa thiệt xả. Nếu biết buông xả thì lòng chúng ta càng rộng rãi vui vẻ, cởi mở nhẹ nhàng là đã hành đúng ý nghĩa là bố thí. Đó là những điểm mà chúng ta cần phải nhớ.

III/ LỢI ÍCH CỦA SỰ NGHĨ TỐT CHO NGƯỜI

Nghĩ tốt cho người có lợi ích gì? Thường nghĩ tốt cho người thì tâm chúng ta sẽ luôn luôn nghĩ về điều tốt cho người này, người kia, tâm tâm sẽ nhẹ nhàng thanh thoát. Vì chỉ nghĩ những điều tốt nên tâm hồn mình cao thượng và ít bị những bóng tối che mờ, nhờ vậy lòng của mình sẽ rộng mở rồi những cái tâm hẹp hòi ích kỷ sẽ bớt, chính đó cũng là làm cho tâm Bồ-đề của chúng ta phát triển, lớn mạnh thêm. Thì khi ấy, cuộc sống sẽ được vui hơn, mọi người càng sống gần nhau hơn, đến gần với nhau hơn, là thêm nhiều bạn hơn, mà nhiều bạn thì bớt kẻ thù. Vậy thì nghĩ tốt cho người đâu có thiệt thòi gì!

Có nhiều người nói rằng: “Nó gạt tôi sao lại bắt tôi nghĩ tốt cho nó?”. Đúng vậy, cho dù người có gạt mình thì mình vẫn nghĩ tốt cho họ. Người ta có nghĩ xấu cho mình, nhưng mình vẫn nghĩ tốt mãi, khi đó lòng chúng ta được nhẹ nhàng, thanh thản, không hề buồn khổ thì đâu có thiệt thòi. Vì nếu mãi lo nghĩ là nó gạt tôi thế đó thì tâm bực bội nóng nảy, ngủ không được cứ trằn trọc v.v… thì chính đó là thiệt thòi, là khổ và đang bị họ làm khổ.

Nên đây là một ý nghĩa chân thật, chúng ta phải thường tập nghĩ tốt cho người để luôn luôn có lợi ích, thường có cuộc sống vui tươi, lạc quan v.v…, tạo thêm niềm tin cho mình và cho người. Giống như ông lão mù cảm hóa được người thanh niên kia. Họ nghĩ: ‘Mình xấu gây khó khăn ngăn trở người mà sao người cũng nghĩ tốt cho mình, không lẽ mình cứ xấu với người hoài sao?’. Nên có khi là chuyển hóa được họ, cũng không có thiệt thòi gì hết. Được vậy là chúng ta đã càng tạo cơ hội để cho người chuyển hóa, cũng là rất có ý nghĩa.

Có câu chuyện về Hòa thượng Quảng Khâm ở Đài Loan tu hành rất đắc lực. Có lần đệ tử Ngài đi nghe thuyết pháp ở chùa khác, nhận thấy lời thuyết pháp của vị giảng sư này có ẩn ý phê bình thầy mình. Họ bất bình nên sau đó lên núi thưa lại với Ngài. Tưởng thưa vậy rồi Ngài cũng đồng tình, nhưng không ngờ Ngài không những không có ý gì khó chịu mà còn bảo các vị đệ tử phải đi sám hối vì có lỗi là đã hiểu lầm lời giảng của pháp sư kia.

Đồng thời Ngài còn giải thích những hàm ý Phật pháp trong lời giảng đó cho đệ tử nghe là tốt, đúng Phật pháp. Rồi khuyên răn các đệ tử: “Giả sử có người nào họ nêu danh tánh của mình ra mắng thì mình còn phải thành tâm biết ơn họ nữa, huống hồ là người ta không nêu tên của mình”. Tức là họ nêu ngay tên ra mắng thì mình còn biết ơn nữa, còn đây không có nêu tên thì có gì đâu, không có dính dáng gì hết.

Như nhà thiền thường dạy: “Việc đến chẳng nhận, tất cả chỗ không tâm”, tức là dù họ có đem đến tận nhà mình, mình còn không nhận, huống là còn ở ngoài cửa cổng không quan trọng. Nếu như chưa gì, chuyện còn ở đâu ngoài hẻm, ngoài xa mà đã đem vô rồi thì thành khổ thôi. Chúng ta thấy tâm hồn của các ngài rỗng rang, thanh tịnh nên lúc nào cũng thoải mái hết.

Sau đó, Hòa thượng mới nghiêm túc dạy đệ tử: “Muốn cho Phật pháp được hưng thịnh thì tăng phải biểu dương tăng”, tức là tăng phải khen ngợi tăng thì Phật pháp mới hưng vượng, đừng để cho tăng hạ thấp tăng, làm vậy là khiến cho Phật pháp dần suy. Ngài còn tán dương vị pháp sư kia rằng: “Ở trong thế giới phù hoa huyễn hóa này mà thuyết pháp độ được chúng sanh như vậy thì thật là một vị Bồ-tát”. Ngài lại nói khiêm tốn: “Còn tôi thì không dám đi thuyết pháp như vậy”. Từ đó, đệ tử của Ngài cũng hết dám chê ai. Đúng là tâm hồn Bồ-tát.

Như vậy, quý vị Thấy Ngài có thiệt thòi không? Thật là một tâm hồn thoải mái, nhẹ nhàng thanh thoát, đâu có gì để khổ. Trái lại, chưa có gì mà vội thu vào thì khổ liền, thiệt thòi liền ngay đó. Đó là những cái bài học lợi ích thiết thực để chúng ta học.

Rồi chính như Hòa thượng Tinh Vân cũng vậy, Ngài có kể lại những cái năm về trước lúc tình hình kinh tế còn khó khăn. Một hôm, đệ tử Ngài coi về việc thủ quỷ trong chùa cầm một xấp hóa đơn đến thưa với Hòa thượng là: “ Sư Phụ! Gần đây trong chùa chúng bị đau răng rất nhiều, thường trụ đã hết lòng cấp cho họ phương tiện để đi chữa răng, số tiền chữa rất cao. Bọn họ nhận ân huệ của thường trụ rồi lại thường hổn ẩu với người, không nói được một lời tử tế. Theo con là chẳng nên xuất tiền cho họ rất uổng phí”.

Hòa thượng nói rằng: “Nhưng mà tôi vẫn kiên trì cho họ được đổi hàm răng tốt. Vì tôi thà để cho họ nói lời không tử tế chứ không thể không cho họ một bộ răng tốt để họ được tiện dụng khi mở miệng thuyết pháp có thể khiến đồ chúng vui vẻ, được pháp bảo, có giá trị vô thượng”.

Ý Ngài nói là tuy những người đó có nói năng với chúng trong nhà hơi thô tháo chút đỉnh không sao, để cho họ có bộ răng tốt lên pháp đường họ thuyết pháp, khiến mọi người thấy vui vẻ, cũng có giá trị chứ không có thiệt thòi.

Quý vị thấy đây cũng là nghĩ tốt cho người, và người được như vậy là tâm hồn nhẹ nhàng. Nếu những vị kia nghe được lời này thì chắc chắn trong lòng cũng hơi xấu hổ. Nghĩa là dù bị lợi dụng nhưng mà Ngài vẫn không so đo tính toán gì hết.

Ngài kể có nhiều trường hợp bị lợi dụng cái danh, tiếng tăm của Ngài. Vì nghe Phật Quang Sơn nổi danh nên họ cũng để hiệu nhà hàng của họ là “Phật Quang Sơn”. Đồ chúng đến thưa, Ngài cũng nói không sao coi như là bố thí sự lợi dụng cho họ. Ngài nói là: “Nếu Phật Quang Sơn không có danh tiếng gì thì họ không lợi dụng, nên chúng ta chẳng cần so đo tính toán ai lợi dụng ai. Nhân vì tất cả sự tướng thế gian đều có sự liên hệä lẫn nhau nên nguyện cho mọi người đồng hưởng được thành quả của sự hỗ tương lợi dụng - tức là lợi dụng lẫn nhau - để có thể phát huy giá trị tối cao của lợi dụng vậy”.

Lòng Ngài thoải mái, rộng rãi không bực bội, khó chịu, bị lợi dụng mà vẫn vui vẻ, tâm như vậy thì đâu có khổ, mà cũng đâu có bị thiệt thòi. Những tâm hồn như vậy sẽ sống rất thoải mái, lạc quan, tin tưởng. Đây là điều chúng ta cần phải học suốt cuộc đời.

IV/ TÓM KẾT

Con người ai cũng có tâm, có tâm tức là có tính biết, mà có tính biết tức là có bản chất giác ngộ. Có tính biết nên chúng ta nhận biết điều này là quấy, biết điều này là mê, là điên đảo mà có giác ngộ, còn cây đá đâu biết giác ngộ. Nên chúng ta phải có niềm tin để vươn lên chứ không thể mất lòng tin và ai cũng đều có thể vươn lên hết. Phải khéo đánh thức chỗ sâu kín ấy để thức tỉnh bản thân đồng thời cũng giúp cho người thức tỉnh mà phát huy điểm tốt của mình rồi chuyển hóa thì đó cũng là giúp cho chính mình. Nhờ vậy, chúng ta không bi quan bởi vì đức Phật cũng từ chúng sanh mà thành, và là con người thì ai cũng đều có bản chất giác ngộ sáng suốt đó nên nói là hạt giống Bồ-đề được nuôi lớn lên từ phiền não của chúng sanh chớ không phải bỗng dưng mà có. Quý vị nên nhớ kỹ điều này.
Trong kinh Duy Ma, ngài Duy-ma-cật hỏi Bồ-tát Văn-thù: “Các hạt giống Như Lai là hạt giống nào?” Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp: “Có thân là hạt giống Như Lai; vô minh, hữu ái là hạt giống Như Lai; tham sân si là hạt giống Như Lai; bốn điều điên đảo là hạt giống Như Lai”.

Hạt giống Như Lai là như thế chứ không phải là ngoài chúng sanh này. Tức Như Lai cũng từ trong đây mà thành, Bồ-đề cũng từ trong đây mà phát khởi. Chúng ta có phiền não nên mới có Bồ-đề nếu không có phiền não thì đâu có Bồ-đề. Nói tóm lại, sáu mươi hai tà kiến và cả thảy phiền não đều là hạt giống Như Lai hết.

Chúng ta luôn nhớ chính từ trong chỗ bùn lầy phiền não mới có chúng sanh phát tâm theo Phật pháp. Tức do có phiền não mới phát tâm đi tu, nếu không có phiền não thì đi tu làm gì? Nên trong bùn lầy phiền não mới có người phát tâm tiến lên giác ngộ. Nếu hiểu như vậy là chúng ta có tâm lạc quan rồi có đủ niềm tin để vươn lên và thấy rằng là con người không có ai là hoàn toàn xấu, ai cũng đều có khả năng để tiến lên, nên đâu có buồn.

Thế nên, tất cả chúng ta cần xây dựng niềm tin cho mình, cho mọi người để vươn lên, tức là khơi dậy để phát triển cái tính tốt trong mỗi người, mà càng khơi dậy càng phát triển tính tốt thì sẽ giảm bớt điều xấu, đó là lẽ thật. Ngược lại nếu lo phát huy điều xấu, phô bày điều xấu thì điều tốt bị che, hai cái đối nghịch với nhau.

Để nhấn mạnh lại nội dung bài giảng hôm nay, tất cả người tu học Phật là phải nên thường tập nghĩ tốt cho người. Nếu hai bên đều thực tập như vậy thì bên này cũng nghĩ tốt cho bên kia, bên kia cũng nghĩ tốt cho bên này, thì quá vui! Cuộc đời sẽù tươi đẹp, bảo đảm thế gian này sẽ bớt thù hằn. Mà cả thế gian đều tập như vậy hết thì bảo đảm trên thế gian này không còn kẻ thù. Mình nghĩ tốt cho người này, người này nghĩ tốt cho người kia thì còn có ai để thù, không còn ai ngăn ngại nhau hết thì cuộc sống hẳn là tươi vui, mát mẻ thêm lên, tâm hồn của mình cũng trong sáng, cởi mở.

Cho nên, mong tất cả quý vị thường luôn phát triển và càng ngày càng mở rộng tâm tốt này thêm nhiều, càng thêm nhiều càng tốt, bảo đảm là không có thiệt hại: Mình nghĩ tốt thì giúp cho người kia cũng nghĩ tốt rồi nhân ra càng rộng, mà càng rộng thì thế gian càng tốt đẹp thêm lên. Đây là bài tập cho tất cả để sống trở về với chánh pháp.

http://www.thuongchieu.net/index.php?option=com_content&view=article&id=3273:tapnghitotchonguoi&catid=17:ttttp&Itemid=347

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

Thương người nóng tính

GN - Nguyện sẽ dùng yêu thương để khỏa lấp những vết thương lòng của anh mà anh vô tình gây ra cho tôi.

Trong các phiền não của thế gian, nóng tính, giận dữ hay sân hận là những kẻ thù nguy hiểm có sức tàn phá công đức khủng khiếp nhất. Đó là ngọn núi lửa, chỉ chực chờ bùng cháy và thiêu rụi cánh rừng xanh mát, an lành trong tâm mình và tâm người.

Có người tu tập cả đời mà tính sân hận mà chỉ giảm được vài phần. Âu cũng là nghiệp lực nặng nề của kiếp này, họ phải trả dần.

Tôi cũng có một người bạn như vậy. Thường ngày anh hiền lành, làm nhiều việc thiện, tâm anh tốt và từ bi lắm, nhưng có tật xấu là rất nóng tính.

Giận quá mất khôn, bạn tôi không sao kiểm soát được mình mỗi khi giận dữ.

Thời gian đầu, mỗi khi chứng kiến anh phẫn nộ, người tôi nóng ran lên, vừa sợ lại vừa tức. Tính anh nóng thì gì cũng nói được, làm được. Một phần vì kính nể, một phần vì là bạn, đã hiểu tính anh nên tôi cố gắng kham nhẫn, để cơn nóng giận trong anh qua đi.

Mỗi lần như thế, tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi chịu đựng một chút cũng không sao, nhưng tôi biết anh vô cùng khổ sở vì tính nóng giận của mình. Một người có tâm tốt, sẽ dằn vặt khi làm cho ai đó đau lòng.

Một lần tôi nhìn thấy anh cô độc, đầy ân hận sau cơn giận, tôi thương anh quá...

Tôi nhớ lời Đức Phật dạy, con người có lúc này, lúc khác, không ai hiền mãi mà cũng không ai hung dữ mãi. Bạn tôi cũng thế, đâu phải lúc nào anh cũng nổi giận, la hét thế này. Có những lúc anh hiền lắm, lại có tâm rộng lượng bố thí rất đáng kính. Hiểu như vậy, nên dầu là nạn nhân của những lần anh “xả giận” vô cớ, tôi chỉ im lặng nghe. Đáng tiếc, trong cuộc sống, không phải ai cũng hiểu được điều này. Tôi chỉ sợ anh gặp kẻ xấu, cố tình khích tướng cho anh nổi nóng, để làm hại anh thôi.

Đức Phật dạy rằng những người nóng giận luôn bị vô minh che lấp tâm tánh. Những khi thấy người vô minh phải mở lòng từ bi yêu thương họ.

Từ khi biết hiểu ra bạn mình đã bị sân si che lấp gây ra nhiều nghiệp chướng, tôi chỉ âm thầm lặng lẽ tìm đọc các bài báo phân tích và hướng dẫn cách chuyển hóa cơn giận để giúp anh.

Trong một lần ngồi nói chuyện vui vẻ, tôi kể anh nghe một câu chuyện về việc nóng giận:

- Khi hai người yêu thương nhau, anh có tin là họ không cần nói lời nào, chỉ qua ánh mắt là đã hiểu nhau không?

- Tất nhiên rồi. Vì yêu thương và gần gũi nhau nên sẽ hoàn toàn hiểu ý nhau.

- Thế khi anh và em ngồi xa nhau, anh có phải nói to hơn không?

- Tất nhiên rồi. Nói to em mới nghe thấy.

- Cũng như vậy, khi ai đó làm cho anh nóng giận, tức là giữa anh và họ không hiểu nhau, trái tim của hai người đã có khoảng cách rất xa rồi. Anh phải la to, hét lớn để họ nghe thấy. Nhưng còn một cách, không phải như thế. Anh có muốn biết không?

- Làm thế nào?

- Đó là thu hẹp khoảng cách trái tim giữa anh và họ lại. Hãy thương họ vô minh, như khi em thương anh vô minh trong lúc nóng giận. Khi hiểu mình và hiểu người, gần nhau rồi anh không cần phải la hét nữa.

Tôi cũng không biết mình nghĩ đâu ra một câu chuyện như thế. Nhưng nhìn khuôn mặt anh giãn ra, tôi hạnh phúc lắm.

Bởi tôi biết người nóng tính là người khổ tâm nhất vì lỡ gây cho người ta những “vết đinh” trong lòng... Gỡ đinh ra, vẫn còn lại những lỗ hổng khó lấp đầy.

Tôi nguyện sẽ dùng yêu thương để khỏa lấp những vết thương lòng của anh mà anh vô tình gây ra cho tôi. Tôi mong từ bi và tỉnh giác sẽ chuyển hóa những chiếc “đinh” nóng giận trong anh thành những bông hoa thơm ngát.

Và anh sẽ không còn nóng giận và phiền não nữa!

Nguyễn Đặng Hồng Quế