Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

Mì ống xào với rau arugula, cà chua và pho mát (Feta cheese) - Kenny C.

Mi xao

16 oz whole wheat Pasta

whole wheat pasta
1 muỗng canh dầu olive
1 muỗng canh boa rô
1 chén cà chua nhỏ
1 chén rau arugula

arugula-larger
Arugula giàu vitamin C và potassium

1/4 chén phó mát (feta cheese)

Feta-cheese

Bắc nồi lên bếp nước sôi cho mì vào luộc, cho vô chút xíu muối và chút dầu cho cọng mì mướt đẹp, luộc khoảng 10-15 phút là mì chín.

Bắc chảo cho nóng, cho dầu vào chảo phi boa rô  cho thơm, cho cà chua nhỏ vào, đảo đều khoảng 1-2 phút. Bỏ mì, rau arugula, feta cheese vào, nêm chút muối, bột nêm và một tí đường, đảo đều cho thấm gia vị. Tắt lửa.

Chúc ngon lành.

Kenny C.

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Canh chua chay - Kim

canh chua(1)

Nguyên liệu:

Tôm chay (nếu có thể thì mua trong chợ vn hoặc mấy tiệm food to go họ làm sẵn để bán, dù sao họ làm ở đây cũng chắc ăn hơn là mua ở đông lạnh)

Tom chay
Giá
Bạc hà
Đậu bắp
Khóm (trái thơm)
Cà chua
1 miếng đậu hũ trắng
Bột nêm chay + me
Rau om, ngò gai và boa rô

Cách làm:

Khóm cắt lát băm nhỏ,  cà chua cắt múi.

Bạc hà + đậu bắp rửa sạch cắt lát. Giá rửa sạch.

Rau om +  ngò gai  rửa sạch cắt nhỏ.

Boa rô băm nhuyễn.

rau gia
Bắc nồi cho nóng cho dầu ăn vào, dầu nóng cho boa rô băm nhuyễn vào xào cho thơm, khi boa rô thơm cho khóm vào, xong bỏ cà chua và tôm chay vào, nêm một ít muối, đường, bột nêm chay, xào vài phút cho thấm.

Cho nước lèo chay vào nồi, nấu sôi lên. Cho đậu hũ, đậu bắp, bạc hà vào, bỏ một ít nước me chua vào, một cục đường phèn nhỏ, nêm nếm cho  vừa ăn.

Sau cùng cho giá và ngò gai, rau om vào, cho vài trái ớt đỏ lên trên cho đẹp.Tắt bếp, múc canh ra tô.Vậy là đã có một tô canh ngon rồi.

Chúc bạn chế biến thành công thật nhiều món ăn chay để đem lại khẩu vị mới, lạ miệng, ngon cơm cho cả nhà nhé!

Kim

Tâm bình thế giới bình – Võ Văn Lân

tam-binh-the-gio-binh

Bao năm bon chen, lăn lộn, nếm đủ mùi sóng gió của cuộc đời hầu chu toàn cái trách vụ công  dân, làm con, làm chồng, làm cha… nhỏ thì cặm cụi học hành thi cử, lớn lên lo công ăn việc làm, công danh sự nghiệp; lập gia đình rồi thì lo con cái ăn học, dựng vợ gả chồng; hết con lại đến cháu nội, cháu ngoại, lo sao cho trong ấm ngoài êm; thế rồi cái già lão suy hao, bệnh tật chực sẵn… ùn ùn kéo tới. Mà đã xong đâu, “chờ xuống  lỗ họa chăng mới có thể phủi tay, rũ áo ra đi”, bao người từng than thở như vậy!

Thế nên không ít người cố tranh  với thời gian, còn được ngày nào thì còn vui chơi, cố tìm cách bù lại những gì lỡ bỏ mất! Vô thường không biết đến lúc nào, cho nên phải hấp tấp, “không ăn cũng uổng không chơi cũng già”, người ta động viên cổ vũ nhau. Lớp như tôi tuổi tác trên dưới sáu bảy mươi… sống rày chết mai vội vã ăn chơi chút đỉnh cũng phải. Mỗi sáng, như thường  lệ sau khi xong thủ tục múa may vài động tác, đi bộ dưỡng sinh… năm ba người một nhóm, tập trung ở quán cóc ven sông, lề đường nhâm nhi ly trà ly cà phê. Chiều chiều lại tìm chỗ tươi mát một chút, bữa nào khá thì vài ba lon, kẹt một hai chai để gọi là thư giãn chống lão hóa. Rồi bao nhiêu chuyện trên trời dưới đất thi nhau luận bàn. Từ chuyện người, ông Obama vô Tòa Bạch ốc chẳng mấy chốc đầu đã bạc, đến chuyện thủ tướng Nhật nắm quyền mới mấy tháng  đã từ chức vì không thể đáp ứng nguyện  vọng dân. Đến chuyện mình, tiêu cực ăn sướng… mua chức cậy quyền, học giả bằng thật, chuyện lừa gạt ra tòa, vật giá leo thang, tai nạn đủ thứ thảm khốc… Biết bao cái chết lãng xẹt, chồng đánh vợ, vợ đổ xăng đốt chồng, con đâm cha giết mẹ, cháu mượn tiền ông bà chơi ‘game’ không được  mượn  luôn  cái đầu  thả  sông. Chuyện  trái luân thường đạo lý, đồi phong bại tục… đáng lẽ “đóng cửa dạy nhau” ai dè tùm lum trên báo, đài… Ngày này qua ngày khác tội ác trở thành bình thường, trái tim xơ hóa, người người vô cảm! Cạn mấy bình nước mà chuyện vẫn chưa hồi kết. Đã mười một giờ, thì giờ vui chơi qua mau đành chia tay hẹn mai tiếp tục. Lời qua tiếng lại, nói bóng nói gió, chuyện trà dư tửu hậu tưởng nói đâu bỏ đó, ai dè ghim hết vào lòng. Người nghe một kiểu, hiểu một cách đêm tới tất cả tái hiện… rồi nghĩ vẩn nghĩ vơ. Đời chi mà lạ, toàn oái oăm cảnh ôm bom tự sát giết người hàng loạt để được vinh danh? Chiến tranh giết chóc, khổ đau con người chưa phút giây yên ổn! Làm sao ngủ được, trông sáng gặp nhau xả xú-páp.

Một buổi sáng như mọi buổi sáng, ai nấy đông  đủ nhưng  không hiểu sao quán bỗng  đóng  cửa (cửa đâu mà đóng!) khiến bàng hoàng như thiếu mất cái gì thân quen. Buổi sáng đẹp trời chẳng lẽ về nhà nằm co! Bàn với nhau kéo đi chỗ khác, nhưng đi đâu chừ? Có người đề nghị đi xa xa một chút. Nhất trí lên đường hướng Tây bắc trực chỉ. Ai không xe thì đèo sau xe người khác. Vòng vèo một lúc qua khỏi Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố, đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ, rẽ phải có tấm biển báo chùa Vạn Đức. Không ai bảo ai, tất cả đổ về hướng đó. Đi được một đỗi, chừng trăm mét thì ngọn gió đâu thổi mát rượi, ai nấy lấy làm khoan khoái hít thở. Hai bên đường cây cối xanh tươi, nhà cửa xinh xắn tinh tươm xen mấy ngôi biệt thự. Tuyệt! Ai nấy hết sức ngạc nhiên. Không tiếng ồn ào động cơ, lâu lâu mới có chiếc xe máy, vài chiếc xe đạp. Không khí mát mẻ, trong lành. Cách thành phố hai ba cây số cảnh quan tuyệt vời thế mà lâu nay chẳng biết tới. Tưởng như cảnh trong phim ảnh mấy nhà hoạt động du lịch vẽ ra để câu khách. Vượt qua đoạn đường chừng hai cây số đến khúc rẽ, dòng  sông lặng lờ vắt ngang trước mặt. Con sông Cổ Cò lịch sử.

Con đường ngoằn  ngoèo  bám dòng sông. Yên tịnh. Thanh thoát. Ai biết Tổ sư xưa khéo chọn nơi đây hữu tình cắm tích trượng dựng thảo am khai mở đạo! Bốn trụ biểu sừng sững dưới bầu trời trong xanh bát ngát. Bước qua tam quan chùa, không gian rộng mở bao la. Tiếng chuông tiếng mõ, tiếng tụng kinh trầm lắng đánh động tâm thức, đưa khách trở về miền tịch mặc. Ai nấy ngẩn ngơ như lạc vào chốn lạ? Từ cổng vào, bên phải trang nghiêm tượng Bồ-tát Quán Thế Âm, một tay cầm tịnh bình, tay kia cành dương rưới nước cam lồ cứu độ chúng sanh. Bên trái tượng Phật Di-lặc chiếc bụng trắng phếu  phơi giữa nền trời xanh lơ, nụ cười vô ngại đem niềm hỉ lạc xóa mọi ưu phiền. Rải rác dưới chân Ngài, mấy chú tiểu đồng tinh khôi đủ tư thế đứng, nằm, ngồi ban phát niềm vui. Sau lưng Ngài trước miếu thờ Mẫu Ngũ hành, hồ sen mấy đóa sen trắng đầu mùa nổi bật trên mặt nước. Dọc lối dẫn vào chánh điện nhiều loại kỳ hoa dị thảo xanh tươi như níu chân khách. Sân trước, vườn sau những  chậu mai cắt tỉa, chăm bón tỉ mỉ. Chỉ nhìn qua, không tinh mắt lắm cũng đủ rõ xu thế, sở đắc sở trường của vị trụ trì. Có người sững sờ ngắm mấy bức phù điêu đắp nổi trước chánh điện. Chính giữa đĩnh đạc là tượng Đức Phật tọa thiền nhập định. Bên phải tượng Phật đản sinh với bảy đóa sen đỡ bước chân. Bên trái Phật chuyển Pháp luân độ năm anh em Kiều-trần-như, những người bạn đạo trước khi Ngài thành đạo. Người khác chăm chú ngắm mấy cụm tiểu cảnh trên ngọn giả sơn quanh  nhà khách… Một vị sư trẻ dáng  vẻ chững chạc và phong thái giản dị trong bộ đồ nâu bước ra đón khách. Bộ ấm trà, mấy chiếc tách màu ngọc đặt trên bộ bàn đá kê ngoài sân, dưới bóng  cây trước nhà khách. Mặc dầu chủ đã ngỏ ý, khách còn tần ngần! Cạn mấy tuần  trà! Không biết bắt đầu từ đâu mọi người nhập cuộc. Rồi bớt e ngại câu chuyện trở nên cởi mở.

- Thầy tu quả sướng thật! Một người tán thán đồng thời như một câu hỏi!

- Các bác có thể cho nhà chùa đây biết tại sao không?

- Ở chùa yên tĩnh, biệt lập cuộc đời, chẳng  đụng chạm đến ai, chẳng hơn thua! Mọi thứ đã có người lo, phải không thưa thầy?

- Các bác nghĩ rằng thầy chùa đóng cửa không đụng chạm  việc đời và chuyện  đời không  nhập  vào cổng chùa? Nếu thế thì tu làm gì, vả lại nếu thật như vậy thì cũng không thể tu.

- Thầy tu chỉ lo tu, chuyện gì phải làm việc này việc nọ, nếu không muốn!

- Như vậy các bác cho rằng tu có nghĩa là lánh đời, cho rằng đạo Phật là tiêu cực như người ta vẫn nghĩ? Thực ra không phải thế, tu theo đạo Phật, trái lại phải nhập vào đời, đưa đạo vào đời. Giác ngộ giải thoát khổ đau nơi chính cuộc đời này! Nếu cuộc đời không khổ đau… Phật hẳn đã không từ bỏ cung điện, quyền cao chức trọng, vợ đẹp con ngoan để hơn sáu năm vào rừng khổ hạnh tìm đường giải thoát, cứu độ chúng sanh. Và nếu không vì mục tiêu giải thoát  giác ngộ chắc chắn đạo Phật không có lý do tồn tại. Để đạt mục tiêu đó người tu theo đạo Phật phải văn tư tu nắm vững giáo lý cơ bản từ lời dạy của Đức Phật để rồi lăn xả vào đời tự độ, độ tha cùng chúng sanh giải thoát sinh tử.

- Ngày nay nhiều người cho rằng lễ hội cầu siêu, cầu an, trai đàn chẩn tế… diễn ra khá nhiều chốn thiền môn. Nhiều thầy đi tụng kinh, cúng tế… thời gian đâu tu tập? Và rằng phần đông Phật tử ngày nay đi chùa chủ yếu lễ bái, cúng dường để cầu xin… Người Phật tử mấy ai có điều kiện học tập kinh điển, thông hiểu lời Phật dạy?

- Bất cứ việc làm nào đều có ý nghĩa và tác dụng hai mặt. Nếu xuất phát  từ mục tiêu lợi lạc quần  sanh thì cũng chính là mục đích tu học đạo Phật. Cũng như việc xây chùa tạc tượng  đúc chuông, tạo cảnh quan  chốn già-lam là cần thiết nhằm  tạo điều kiện thuận  lợi cho người tu học, khách thập phương chiêm bái, quay về đời sống tâm linh. Việc cầu an cầu siêu là phương tiện bậc tu hành hoằng hóa độ sanh, tạo cơ hội tiếp cận để truyền đạt, sách tấn mọi người tinh tấn tu học, đưa lời Phật dạy vào cuộc sống hầu giảm khổ đau, động viên an ủi người sống lẫn kẻ đã khuất. Trái với mục đích này, vị danh, cầu lợi cá nhân thì hậu quả xấu tất sẽ theo sau như bánh xe lăn theo vết xe kéo, như bóng theo hình. Mỗi hành vi từ thân, miệng, ý nhỏ lớn đều tạo nghiệp và ý dẫn đầu, ý tạo tác. Người học Phật, tu Phật thấm nhuần lời Phật dạy nhất cử nhất động đều cân nhắc hậu quả. Tuy thế không loại trừ một số trường hợp lệch lạc. Dù sao cũng chỉ là số ít ngoại lệ và tất nhiên ai làm người ấy trả giá, nghiệp quả khách quan, công minh không loại trừ bất cứ ai dù là người tu hay kẻ tục! Thầy ân cần giảng giải.

- Như thế, thưa thầy người tu khác gì người không tu! Một người thắc mắc.

- Khác chứ, mà khác hoàn toàn nữa ấy chứ! Thầy đặt chén trà xuống rồi thong thả tiếp tục.

- Người đời nhìn, nghe, thấy, biết những gì đưa hết vào tâm rồi chấp chặt. Cái tốt như được khen thì phổng mũi lên giữ bằng được. Trái lại cái xấu, không vừa ý thì giãy nãy phản  đối, bị chê chẳng  hạn tức thì tức giận ghét bỏ! Rồi đáp trả ăn miếng trả miếng, khổ đau dài dài. Đó là tâm trạng của số đông. Các bác có như thế không? Người tu cũng nhìn, nghe, thấy hết… biết tất cả mọi thứ, ngoài đời cũng như trong đạo cũng tốt xấu, tích cực, tiêu cực nhưng  tâm không dính mắc. Cũng làm mọi thứ để sống để tu tập nhưng người tu không vì động cơ cái ta và cái của ta nên không vướng mắc. Tu tập, hành xử theo tinh thần khế lý khế cơ nghĩa là phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nên làm mà như không làm, làm mà như chơi. Tốt xấu, đúng  sai, phải trái… thật ra là hai mặt của một thực tại, bởi cái nhìn phân  biệt nhị nguyên  huân  tập  thành  thói quen  chi phối suy tư và cảm nhận của mỗi người. Hiểu bản chất thực tại là không tự tính, là vô ngã vô thường, siêu vượt phân biệt nhị nguyên, người tu học không chấp trước nên không buồn vui, mừng giận, lo âu!

Dừng một chút, thầy nói tiếp.

- Khi vọng tưởng khởi lên mà tâm không có chánh niệm đi theo nó thì nó sẽ tạo ra nhiều lớp vọng tưởng nối tiếp và lôi kéo tâm chạy theo. Thế nên nếu các bác cố gắng tu tập thì hoàn toàn có thể đưa tâm về trạng thái thanh  tịnh. Vì tâm khởi vọng tưởng thì phiền não tiếp theo sau. Nếu tâm vắng lặng thì phiền não dứt!

Đến đây, thầy kể câu chuyện  để minh họa  nhận định trên:

“Hai huynh đệ làm Phật sự trở về, ngang  qua đoạn đường ngập nước. Có một cô gái trẻ muốn vượt qua chỗ nước ngập nhưng ngần ngại không biết cách nào. Một thầy chìa lưng cõng cô gái qua bên kia đường bỏ xuống rồi lặng lẽ đi. Hai vị tiếp tục đi trong im lặng. Vừa về đến chùa vị kia lên tiếng trách cứ người bạn đạo đã phạm giới, dám cõng cô gái trên lưng. Vị này bình tĩnh thưa: “Đệ đã bỏ cô ta xuống từ lâu khi qua bên kia đường, không ngờ huynh còn cõng cô ấy về đến tận đây!”. Thầy kết luận “Vạn pháp qui tâm, vạn hữu qui thức” Đức Phật đã dạy 25 thế kỷ trước. Cuộc đời xưa nay vốn thế… do cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh. Tốt xấu là do tâm khởi phân biệt rồi đâm ra yêu ghét, buồn vui, mừng giận… Người tu chân chính tâm thanh  tịnh nên thấy cảnh thanh  tịnh. Trái lại chúng  ta phàm phu tâm đầy ắp đúng sai phải trái nên cố nắm bắt hay từ chối không được đâm ra âu lo buồn phiền… nên chăng phải tu tập để thanh tịnh tâm, hoàn cảnh sẽ trở nên tốt đẹp tích cực! Vì như cụ Nguyễn Du đã nói “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!”.

Tốt xấu thị phi là chuyện hí luận bao đời! Mà để thay đổi hoàn cảnh, theo thầy, tu tập trở về tâm thanh tịnh là điều nên làm và có thể làm. Mọi người tâm đắc và hết lời cảm thán! Ai nấy nhẹ nhõm có được giấc ngủ yên ổn từ đây! Cáo từ trong niềm hoan hỷ và thói quen bao lâu quyết thay đổi, ít ra mỗi tuần một ngày vân tập về chùa! ■

Võ Văn Lân (Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo 152)

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-125_4-18382_5-50_6-6_17-382_14-1_15-1/tam-binh-the-gioi-binh.html

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013

Rau câu lá dứa – Kim

rau cau

NGUYÊN LIỆU:

- 1 gói bột rau câu (25 g agar-agar powder)

bot rau cau
-  6 cups rưỡi nước lạnh (nhớ cho dư chút xíu vì thạch thiếu nước sẽ bị cứng)
- 6 muỗng canh đầy đường cát trắng - lượng đường gia giảm tuỳ khẩu vị của  các bạn
- 1 lon nước dừa hiệu Savoy (hay hiệu gì khác cũng được)
- Khuôn làm thạch (dùng khuôn bằng thuỷ tinh tròn  hay vuông đều được )

CÁCH LÀM:

- Bỏ gói rau câu và 6 cups rưỡi nước lạnh vào nồi, nấu lửa vừa vừa cho tan rau câu, thỉnh thoảng nhớ quậy nhẹ kẻo rau câu bị dính nồi.

- Cho 6 muỗng đường cát trắng vào và khuấy nhẹ tay cho đường tan.

-Lá dứa cắt khúc xay hoặc đâm nhuyễn, sau khi xay xong thì vắt lấy một chén nước lá dứa.

- Chia ra làm hai nồi, một nồi để nước lá dứa, và một nồi để nước dừa vào.
- Lấy khuôn, để một lớp lá dứa, chờ rau câu vừa đông tới, là đổ thêm lớp rau câu nước cốt dừa, và sau cùng là nước lá dứa.

- Bỏ vào tủ lạnh  khoảng 2-3 tiếng hoặc qua đêm thì dùng mới ngon (vì càng lạnh thạch càng ngon hơn và mát).

-Cắt miếng thạch vừa ăn bằng dao có răng cưa (sẽ thấy đẹp hơn), rồi xếp ra dĩa thưởng thức.

Chúc các bạn thành công cho một món ăn chơi mùa hè nhé.

Kim

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

Ốc đảo tự thân – Chương 16: Tiềm Thức

ayya-khemaokPHƯƠNG PHÁP LUYỆN TÂM THANH TỊNH
Tác Giả: Ni Sư Ayya Khema - Việt Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
Dịch từ bản tiếng Anh: Be An Island The Buddhist Practice of Inner Peace
Wisdom Publications 1999
Nhà xuất bản PHƯƠNG ĐÔNG 2010
Những Điều Cốt Lõi

   Nhiều người có thói quen tự trách mình hay người khi gặp những điều bất như ý.  Có người thích trách người khác, kẻ lại thường tự trách mình.  Không có thái độ nào là đúng hay có thể khiến tâm yên ổn.

   Tuy nhiên nếu chúng ta có thể nhận biết đưọc các bản năng vô thức, sâu lắng của mình, có lẽ ta sẽ hiểu đưọc tâm lý nhân loại.  Nếu chúng ta biết rằng tất cả chúng sanh đều có những bản năng này, có lẽ ta sẽ bớt sân hận, đổ lổi cho người và dễ dàng chấp nhận những gì xảy đến cho ta với lòng thanh thản.  Chúng ta sẽ dễ sửa đổi bản thân hơn khi hiểu rằng những bất thiện của mình cũng là bản tính của nhân loại.

   Những bản năng tiềm ẩn này vi tế hơn là ngũ uẩn.  Chúng ta dễ dàng nhận ra ngũ uẩn vì chúng thô, lộ liễu như: tham ái để thoả mãn các giác quan; sân hận, giận dữ, bực tức; thụy miên hôn trầm, thiếu nghị lực (thụy miên để chỉ về thân, và hôn trầm chỉ tâm); trạo cử, lo lắng, không an ổn, bất an; nghi hoặc, không biết phương hướng.  Năm chướng ngại này rất dễ nhận biết ở chính bản thân ta và tha nhân.  Nhưng các bản năng nằm trong tiềm thức, thì vi tế, khó nhận biết hơn nhiều.  Chúng chính là gốc rể của ngũ uẩn, khó nhận biết, nên không dễ diệt trừ.  Muốn tiêu trừ chúng, ta cần có tâm tinh tấn chánh niệm và sự nhận thức sâu sắc.

  Để tiêu trừ các chướng ngại do ngũ uẩn mang đến, ta có thể bắt đầu chú tâm vào các bản năng tiềm ẩn này.  Hai bản năng đầu tiên, dục và sân, là gốc nguồn của ái dục và sân hận trong năm uẩn.  Ngay chính khi cái ngọn của ái dục và sân đã hầu như được tiêu trừ, thì cái gốc của chúng trong tiềm thức của ta vẫn còn nguyên.  

   Dục vọng phát khởi khi chúng ta bám víu, chấp vào những điều ta thấy, nghe, ngữi, nếm, xúc chạm hay suy tưởng.  Chúng ta lo lắng về các cảm thọ, không biết rằng chúng vô thường đến, rồi đi.  Khi không có sự nhận thức sâu sắc này, chúng ta thường coi các cảm xúc này rất quan trọng.  Chúng ta chạy đuổi theo chúng, tìm nguồn lạc thú nơi chúng.  Tất cả các chúng sanh đều tham dục. Chỉ có các thánh tăng là đưọc coi như những người đã diệt trừ đưọc ái dục hoàn toàn.  Kinh Từ Bi đã tả một vị tăng lý tưởng như là người đã hàng phục đưọc các dục.  Và trong nhiều bản kinh, Đức Phật đã nói rằng diệt trừ đưọc hết ái dục là con đường đưa đến Niết bàn.

   Phải cần nỗ lực tinh tấn và tri kiến sâu xa mới mong thắng đưọc dục vọng.  Không thể hàng phục đưọc dục vọng bằng chỉ những lời ta thán như: "Dục vọng là bất thiện.  Tôi sẽ buông bỏ chúng".  Ta cần phải tri kiến sâu xa rằng các cảm thọ do giác quan mang đến tự chúng không có giá trị gì.  Đó chỉ là kết quả của các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) xúc chạm với các trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, giác).  Chỉ có thế.  Nếu chúng ta còn phản ứng, xem các duyên này là quan trọng, thì dục vọng và sân còn dấy khởi -hai thể tính này luôn đi chung với nhau.  Dục vọng đưọc thoả mãn khi các duyên trần tốt đẹp.  Ngược lại thì sân nổi lên.  Sân không cần phải biểu lộ bằng giận dữ, la hét, ghét bỏ, chống đối.  Nó có thể chỉ là một cảm giác khó chịu, không vừa lòng, bất ổn.  Nó là bản tính của chúng sanh đầy dục vọng.

   Chỉ có các bậc đã chứng A-na-hàm (Anagami), quả vị cuối cùng trước khi Giác Ngộ, không còn luân hồi, đã Giác Ngộ trong cõi thanh tịnh, mới có thể diệt trừ hết các tham sân.  Ngay chính các vị đã chứng các quả vị như Tu-đà-hoàn (sotapanna) hay Tu-đà-hàm (sakadagami), là quả vị thứ nhất và thứ hai của Giác Ngộ thanh tịnh, cũng vẫn còn bị khổ vì tham sân. 

   Một khi ta còn nghĩ rằng các động lực thúc đẩy tham sân ở bên ngoài chúng ta, thì con đường đến với đạo hãy còn ở xa ta.  Chúng ta phải ý thức rằng các hành nghiệp là do ta chủ động; chỉ khi ấy ta mới bắt đầu tu sửa ngay nơi bản thân mình.  Nếu không biết các hành nghiệp từ đâu đến thì làm sao chúng ta biết phải làm gì?  Vì chúng xảy ra liên tục, ta sẽ có biết bao là cơ hội để ý thức đưọc những gì đang xảy ra nơi nội tâm.

   Nhưng chỉ có biết các phản ứng, hành động của ta do đâu mà ra cũng không thể giúp ta bỏ đưọc chúng.  Ta còn phải hiểu rằng bực tức với các phản ứng, hành động của ta chỉ là vô ích, bất thiện.  Khi đã nhận thức đưọc rằng tham sân là những bản năng vô thức tạo nên ái dục và sân, tri kiến này sẽ giúp ta có thể chịu đựng đưọc những khó khăn, khiếm khuyết của mình và tha nhân.  Như thế còn gì để ta phải bực tức nữa?  Việc duy nhất cần làm là chuyển hóa các tâm hành bằng cách coi chúng như là các đề tài để thiền quán, soi rọi lại mình.  Coi những khó khăn, vướng mắc của mình như là một cách để thanh lọc tâm.

   Các bản năng và các chướng ngại (năm uẩn) đều tương quan với nhau.  Nếu ta có thể sửa đổi thứ này, thì thứ kia cũng bớt chướng ngại, giảm sức mạnh, không còn đáng sợ nữa.  Người ta thường sợ chính những hành động của mình.  Vì thế họ thường cảm thấy bị kẻ khác đe dọa -chúng ta ít sợ kẻ khác làm gì hay nói gì hơn là sợ mình sẽ phản ứng, hành động như thế nào.  Chúng ta không tự tin, sợ rằng mình sẽ quá giận, sẽ tấn công, do đó sẽ làm đổ ngã hình ảnh của 'cái tôi'.

   Tự ngã là một chướng ngại của nội tại, vì nó đưọc hình thành trên ảo tưởng của sự thường hằng.  Trong khi tất cả pháp đều thay đổi, kể cả chúng ta, thì tự ngã đã hàm chứa một sự thường hằng, vĩnh cữu.  Phút này ta là người tham dục, phút khác ta lại sân si.  Có lúc ta tự tại, lúc lại bất an.  Vậy ta là ai?  Một hình ảnh bất biến về chính mình không thể dựa được trên nền tảng nào.  Hình ảnh đó sẽ ngăn trở ta soi rọi lại các bản năng vô thức, đưa ta đến những nhận thức sai trái một cách mù quáng.

   Bản năng vô thức thứ ba là hoài nghi hay do dự.  Vì hoài nghi, nên ta do dự.  Tôi sẽ phải làm gì đây?  Lo lắng về khả năng, về con đường ta đã chọn, khiến ta lãng phí thời giờ vô ích hay theo đuổi những hoạt động không đem lại ích lợi gì.  Sự không chắc chắn và bất ổn bao trùm chúng ta.  Ta lo sợ cho sự an toàn của mình.  Nhưng không ở đâu là hoàn toàn an ổn chỉ trừ Niết bàn.  Vì thế nếu ta có thể quán sát sự sợ hãi, bất an của mình, chúng ta sẽ vượt qua được tất cả để thành tựu được nhiều hơn.

   Các vị chứng đưọc quả vị Tu-đà-hoàn đều là những người đã diệt bỏ đưọc lòng hoài nghi, do dự.  Họ là những người đã đạt đưọc quả vị siêu phàm đầu tiên, không còn có lòng hoài nghi.  Đã tự chứng đưọc chân như, một thực tại khác hẳn thực tại tương đối nơi chúng ta đang sống, vị chứng Tu-đà-hoàn có thể xông tới mà không lo lắng, sợ hãi.  Không thể hoài nghi một kinh nghiệm tự chứng.  Thí dụ, nếu như ta bảo một đứa bé: "Con đừng sờ vào lửa, sẽ bị bỏng đấy", vậy mà nó vẫn sờ.  Nhưng một khi đã sờ, đã bị đau vì phỏng, chắc chắn là nó sẽ không bao giờ làm thế nữa.  Kinh nghiệm thực chứng xóa tan đi nỗi hoài nghi, do dự.

   Bản năng vô thức kế tiếp là tà kiến (ditthi) về một cái ngã.  Đa số chúng ta đều không tránh khỏi điều này.  Rất ít biết rằng: 'Đó chỉ là tâm sở', nhưng lại tin 'Tôi nghĩ thế này, thế nọ'.  Khi cơ thể bất an, rất ít người nói: 'Chỉ là một cảm giác khó chịu', nhưng lại cho rằng: 'Tôi không khỏe", "Tôi bị đau".  Sự miêu tả của bất cứ việc gì xảy ra đều xoay quanh một cái 'tôi' là một bản năng tiềm ẩn sâu xa mà muốn bứng đưọc gốc rể của nó cũng phải cần biết bao nỗ lực.  

   Muốn buông bỏ tà kiến về 'cái tôi' không phải chỉ thuần có tri thức hiểu biết rằng cái tôi không thực có là đưọc.   Nó đòi hỏi ta phải có sự hiểu biết từ nội tâm rằng sự kết hợp giữa thân tâm không gì hơn là những hiện tượng không do ai làm chủ.  Người có chánh kiến về cái ngã, đạt đưọc quả vị đầu tiên, quả dự lưu, nhưng chỉ có các vị A-la-hán mới hoàn toàn diệt trừ hết mọi vướng mắc về tự ngã.

   Kế tiếp là ngã mạn, hay tự cao (mana), ở đây cũng hàm chứa ý nghĩa của khái niệm về ngã, như là nam hay nữ, già hay trẻ, xấu đẹp.  Chúng ta có nhận thức về những ao ước, cảm thọ, suy nghĩ, hiểu biết hay các hành của chính mình.  Tất cả những khái niệm đó tạo nên ngã sở, và chúng ta trở nên tự hào về những sở hữu, về trí tuệ, khả năng, cảm giác, cảm thấy mình đặc biệt hơn hẳn người khác.  Lòng tự hào này có khi rất khéo đưọc che đậy, phải cần nhiều quán chiếu, soi rọi lại mình mới có thể biết đưọc, vì nó chính là sự hiện hữu của ta.  Khi ai đó nói với chúng ta: "Hãy cho tôi biết khái niệm về nữ giới", câu trả lời của người phụ nữ thường là: "Tôi là một phụ nữ, đủ chưa?"  Nhưng khi còn nghĩ ta là gì đó -nam, nữ, trẻ, già, khôn dại- thì Niết bàn còn xa thăm thẳm.  Các khái niệm về tự ngã là chướng ngại cho đường tu của ta.

   Chỉ có các bậc A-la-hán mới diệt trừ đưọc bản năng vô thức về ngã mạn, tự cao tự đại.  Bản năng này không có sự liên hệ trực tiếp, rõ ràng với năm uẩn, nhưng cũng như tà kiến (ditthi), nó là biểu hiện chính của vọng tưởng, là nguồn gốc của bao phiền não, cấu uế nơi ta.

   Kế đến là sự bám víu vào hiện hữu (bhavaraga).  Đó là bản năng sinh tồn của ta.  Chúng ta chấp chặt vào cái sống, không muốn rời bỏ, không bao giờ sẳn sàng để chết ngay bây giờ.  Nhưng ta phải tập sẳn sàng để chết ngay giờ phút này -không có nghĩa là muốn kết thúc sự sống ngay, nhưng là chấp nhận cái chết như một việc có thể xảy ra bất cứ lúc nào.  Muốn đưọc chết là một thái cực của muốn đưọc sống mãi.  Đó là muốn hủy diệt 'cái tôi' vì cuộc đời quá đau khổ.  Nhưng việc sẳn sàng chấp nhận cái chết ngay bây giờ có nghĩa là ta đã thấy đưọc cái giả dối trong việc bám víu vào cái ngã và ta buông bỏ nó.

   Bám víu vào sự sống khiến ta phải phụ thuộc vào nó.  Chúng ta muốn mọi việc đều xảy ra theo ý mình muốn, nếu không đưọc, ta sinh khổ đau.  Từ đó đưa đến tham sân.  Chúng ta thường dễ quên rằng mình chỉ là những người khách trên trái đất này.  Cuộc viếng thăm của ta ngắn ngủi và có thể chấm dứt bất cứ lúc nào.  Bám víu vào sự sống khiến ta phải toan tính cho tương lai, vì thế không thể sống ở giây phút hiện tại.  Trong tương lai, không có sự sống, tất cả chỉ là tưởng tượng, phỏng đoán, một niềm hy vọng, một ước nguyện.  Nếu ta thật sự muốn sống, muốn kinh qua mọi thứ trong đời, thì ta phải có mặt ngay bây giờ, tỉnh thức từng phút giây.  Điều đó giúp ta dễ buông bỏ việc chấp vào những gì sẽ xảy đến cho ta trong tương lai, nhất là câu hỏi không biết ta sẽ tiếp tục hiện hữu không.  Hiện hữu, sống ngay giây phút này là đủ.  Làm được thế ta sẽ có đưọc chánh niệm mạnh mẽ, chú tâm thật sự và tri kiến sáng suốt.

   Bám víu vào sự sống cũng khiến ta có ý mong chờ một cái gì tốt đẹp hơn sẽ xảy ra nếu ta biết chờ đợi, khiến ta thiếu sự nỗ lực.  Nỗ lực phải đưọc thực hiện ngay bây giờ.  Làm sao ai biết tương lai sẽ mang đến cho ta điều gì?

   Và cái cuối cùng trong bảy bản năng là vô minh (avijja): không biết đến Tứ Diệu Đế.  Chúng ta phủ nhận thực tế bằng vô minh, không biết rằng mọi khổ đau đều từ lòng ham muốn mà ra, dầu điều ta ham muốn không phải là bất thiện.  Nếu chúng ta tiếp tục u mê về hai sự thật đầu tiên (khổ đế, tập đế), chưa nói đến sự thật thứ ba là đạo đế, thì ta sẽ mãi mãi ở trong khổ đau.  Bản năng vô thức của vô minh cũng đưa ta đến tà kiến về ngã -khái niệm về một tự ngã- mà nếu không có nó, sẽ không có tham sân, không có hoài nghi, do dự, không có tà kiến, không ngã mạn, tự cao, cũng như không có việc bám víu vào sự sống.

   Theo kinh nghiệm tu tập của chúng tôi, nếu ta có thể biết được bản năng vô thức nào gây cho ta nhiều trở ngại nhất, hãy lấy nó làm trọng tâm tu tập của ta.  Vì mọi bản năng đều tương quan mật thiết, nên giảm đưọc một bản năng nào, thì các bản năng khác cũng đưọc giảm thiểu.

   Để nhận ra đưọc các bản năng vô thúc này trong ta, đòi hỏi rất nhiều chú tâm rốt ráo, có nghĩa là đòi hỏi ta phải có thời gian và không gian.  Không thể thực hiện đưọc nếu ta phải bận rộn tiếp xúc với tha nhân.  Nếu tâm thanh tịnh, chúng ta có thể thực hiện đưọc điều đó trong lúc tọa thiền hay quán chiếu.

   Quán chiếu là một hành động hỗ trợ đắc lực cho tĩnh tâm tọa thiền, một người bạn quan trọng trong việc hướng ta đến tri kiến, trong khi thiền chỉ thì hướng đến sự tĩnh lặng.  Quán chiếu là nhìn vào bên trong, tìm xem cảm thọ nào vừa dấy khởi.  Xem điều gì đã khiến tôi hành động thế này, thế nọ?  Nếu thực hiện đưọc rốt ráo, với sự chân thật tột cùng, quán chiếu sẽ giúp ta nhận biết đưọc các bản năng vô thức của mình; nhắc nhở ta rằng tất cả chúng sanh đều có các bản năng này, và sẽ khiến ta tự hỏi mình: chúng đã ảnh hưởng đến tôi như thế nào?  Khi đã khám phá ra đưọc điều đó, chúng ta có thể quán tưởng sâu hơn: làm thế nào để buông bỏ bản năng này, hay ít nhất là giảm thiểu nó?  Mỗi ngày nên dành ra ít thời gian để quán chiếu.  Như thế, khi ngồi xuống chiếu tọa thiền, chúng ta sẽ thấy dễ dàng đi vào định hơn.

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-8066_5-50_6-1_17-543_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

Quán cơm chay từ thiện Hoa Từ Bi

image

Quán cơm từ thiện 5.000 đồng ở Sài Gòn

Cứ 10h sáng hàng ngày, quán cơm chay Hoa Từ Bi lại tấp nập thực khách. Với mỗi suất cơm giá 5.000 đồng/ phần, toàn bộ số tiền thu được sẽ được dùng để phát cơm từ thiện cho các bệnh viện tại TP HCM, tổ chức các chương trình từ thiện vào chủ nhật hàng tuần.

Sau một thời gian dài vận động, quyên góp công sức, tài vật xây dựng quỹ và xây dựng cơ sở vật chất, quán cơm từ thiện Hoa Từ Bi đã thành hình và chính thức đi vào hoạt động ở quận Tân Phú, TP.HCM

Quán được thành lập từ các tấm lòng hảo tâm, người góp gạo, rau cải, bếp ăn công nghiệp… cùng sự chung tay góp sức từ các thành viên câu lạc bộ từ thiện Hoa Từ Bi.

Mỗi ngày quán phục vụ 600-700 suất cơm, bao gồm 8-10 món chay để mọi người có thể lựa chọn. Hôm nào có sự ủng hộ của các nhà hảo tâm, quán cơm sẽ miễn phí sữa đậu nành hoặc trái cây tráng miệng .

Thực khách đến ủng hộ đa phần là công nhân, sinh viên, học sinh, những người nghèo quanh khu vực. Ngoài ra, phục vụ quán từ 10h đến14h mỗi ngày cũng là công việc để hỗ trợ cho các bạn sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

Quán cơm Hoa Từ Bi do thầy Trí Bửu (chủ nhiệm CLB Hoa Từ Bi) khởi xướng, khai trương vào 17/8 vừa qua. Vượt qua những khó khăn ban đầu, hiện tại quán đang nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, quan tâm của các mạnh thường quân. Đây chính là nơi tụ họp những tấm lòng nhân ái, gắn kết trái tim yêu thương trong mỗi suất cơm ý nghĩa.

Toàn bộ số tiền thu được sẽ sử dụng để phát cơm từ thiện cho các bệnh viện tại TP.HCM, tổ chức các chương trình từ thiện vào chủ nhật hàng tuần.

Độc giả quan tâm muốn ủng hộ quán cơm vui lòng đến địa chỉ 110/32/1 Tô Hiệu, phường Hiệp Tân, Tân Phú, TP HCM, hoặc liên hệ với thầy Trí Bửu, số điện thoại : 0909 384968.

Trâm Lê

http://hoatubi.com/du-an/4-Qu%C3%A1n%20c%C6%A1m%20t%E1%BB%AB%20thi%E1%BB%87n%205.000%20%C4%91%E1%BB%93ng%20%E1%BB%9F%20S%C3%A0i%20G%C3%B2n.html

Cà rem dâu chuối - Kenny C.

-Popslice

popslice

1 trái chuối

1 cup dâu tây tươi hoặc đông lạnh

6-8 ounces (khoảng 1 cup) Greek yogurt

1/4 chén đường

1 muỗng cà phê nước cốt chanh

1 cup sữa tươi

khuôn popsicle hay ly mủ và que cây hay khuôn nước đá và tăm

ca rem dau chuoi
Bỏ tất cả nguyên liệu đã chuẩn bị sẵn vào máy xay sinh tố, xay đến khi  mịn là được (khoảng 1-2 phút)

sinh to dau chuoi
Đổ vào khuôn và để vào ngăn đông lạnh  ít nhất 8 tiếng hoặc qua đêm, ngày mai là có que kem ngon ăn rồi.

Để dễ lấy kem ra, bạn có thể mở vòi nước nóng xả bên ngoài của khuôn cho đến khi bạn có thể nhẹ nhàng kéo que kem ra.

strawberry popslice

Cách làm bằng ly mủ và que cây nếu không có khuôn:

Popslice

Đổ vào ly, đậy giấy ni lông, cắm que cây xuyên qua ni lông vào chính giữa ly, để đông đá từ 2 đến 4 tiếng

-Popslice

Xong lấy ra để ở ngoài vài phút là có thể lấy ra khỏi ly được dễ dàng

Cách làm bằng khuôn nước đá và tăm:

icecream 002

icecream 003

icecream 006

icecream 009

*Bạn có thể xay bất cứ loại trái cây nào và làm tương tự như cách này, bảo đảm các em nhỏ sẽ rất thích.* Smile

Kenny C.