Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Lỗi Của Người - Ni Sư Ayya Khema

Hãy Đến Để Thấy

Phật Giáo, Con Đường Đưa Đến Hạnh Phúc

Come And See For Yourself The Buddhist Path To Happiness

Tác giả: Ni Sư Ayya Khema

Việt dịch: Chơn Minh Nguyễn Văn Phú

Tịnh Nghiêm Nghiêm Xuân Cường

Diệu Liên Lý Thu Linh

---o0o---

Chương IV. Lỗi Của Người

Lỗi người dễ thấy biết bao

Lỗi ta khó thấy ai nào muốn khui,

Lỗi người cứ cố phanh phui

Như tìm trấu lẫn trong nồi gạo kia

Lỗi ta lại dấu diếm đi

Tựa người săn bắn muốn che dấu mình

Hay như con bạc cố tình

Cờ gian bạc lận lưu manh dấu bài.

Dhammapada stanza 252

- Kinh Pháp Cú - Câu 252 (1)

Nếu ta thấy được lỗi người

Tâm ta nóng giận tức thời dễ sinh

Tăng thêm phiền não thật nhanh

Xa lìa an tịnh, quẩn quanh muộn sầu,

Lỗi người chẳng để tâm lâu

Còn chi sầu muộn, còn đâu não phiền.

Dhammapada stanza 253

Kinh Pháp Cú -Câu 253 (2)

(2)   Kinh Pháp Cú (Dhammapada), Tâm Minh Ngô Tằng Giao chuyển dịch thơ, Diệu Phương xuất bản 2003

   Hai câu kệ từ kinh Pháp Cú được nói đến ở đây có tính cách phổ quát thích hợp cho tất cả, và có thể giúp phát sinh các trí tuệ đáng kể. Trước hết là câu kệ:

Dễ thay thấy lỗi người

Lỗi mình mới khó thấy

Lỗi người ta phanh tìm

Như sàng trấu trong gạo

Còn lỗi mình che đậy

Như kẻ gian dấu bài

   Ở đây, khuynh hướng che dấu lỗi lầm của chúng ta cũng giống như một thủ đoạn lừa đảo, vì chính thật là ta không thành thật với bản thân. Tuy nhiên, chấp nhận con người thật của mình rất khó, nhất là khi nói về lỗi lầm của mình, vì sự đánh giá bản thân của ta  luôn sai lạc - hoặc là quá cao hay quá thấp.  Phương cách tốt nhất để có được một cái nhìn rõ ràng và thực tế về bản thân là tự soi xét mình với chánh niệm.

   Thấy lỗi của người thật không khó vì chúng thường làm ta khó chịu, và trong trạng thái tâm tiêu cực này ta cho rằng những gì ta nghĩ là đúng và ta có quyền phán đoán người.  Đó là lý do khiến chúng ta phê bình hấp tấp, rồi quên rằng những suy nghĩ của mình chỉ dựa trên ý kiến riêng của chính mình, nên không thể nào hoàn toàn khách quan. Ở một mức độ nào đó, tất cả các quan điểm của chúng ta đều sai lạc, vì chúng khởi nguồn từ ảo tưởng về bản ngã của ta: ‘Tôi có, tôi muốn, tôi sẽ, tôi tin rằng, tôi biết, tôi nghĩ.’  Những quan điểm của chúng ta có thể đúng một cách tương đối, nhưng chân lý tương đối không bao giờ đủ để khiến ta hoàn toàn thõa mãn, vì cuối cùng thì nó cũng chỉ thể hiện sự thật của một bản ngã đối chọi với một bản ngã khác. Một người tin thế này, người khác tin thế kia; người làm cách này, người khác làm cách hoàn toàn ngược lại.  Chân lý xây dựng từ ý niệm của một bản ngã không thể nào là chân lý tuyệt đối và hoàn toàn. Nhiều lắm, nó chỉ thể hiện sự lựa chọn của cá nhân. Chân lý tương đối không thể nào hơn thế được.

   Nhìn từ quan niệm chân lý tuyệt đối thì hoàn toàn khác. Từ góc nhìn này, chúng ta bắt đầu ý thức được rằng lỗi của người mà ta quan tâm đến cũng cần được nhìn thấy nơi ta.  Lỗi của người là phản ảnh của lỗi nơi ta, nếu không ta đã không thể nhận biết chúng.  Khi thấy ai giận dữ hay khoe khoang, chúng ta nhận ra những khuyết điểm này từ kinh nghiệm của bản thân.  Chúng ta biết những cảm xúc này từ đâu đến và tác động của chúng như thế nào.  Tương tự, người ta nói chỉ có Phật mới nhận ra Phật, vì chỉ có Đấng Giác Ngộ mới biết được sự giác ngộ.

   Khi chúng ta ý thức rằng mình đang phê bình người khác, chúng ta cần ngay tức khắc biết mình sai rồi.  Những lời chỉ trích của chúng ta sẽ không có lợi ích gì; suy cho cùng, có ai đã sữa đổi khi bị bới móc đâu?  Nói xấu người khác luôn có hại, phần lớn là cho mình. Chúng ta biết người khác cũng có thể khó chịu với ta, và nếu ta phản ứng bằng  sự giận dữ, hờn oán, thì ta có thể rơi vào vòng sân hận dữ dội hơn bao giờ hết, và có thể mất một người bạn.

   Vậy thì chỉ trích không có lợi – nhưng nhận lỗi thì trái lại. Ví dụ, nếu chúng ta thấy một người nào đó không có chánh niệm, thái độ đúng đắn sẽ là ‘Tôi tự hỏi không biết lúc này tôi đang chánh niệm thế nào?’  Đó là phản ứng đáng kể duy nhất. Nếu chúng ta quan sát thấy một ai đó lầm lỗi, và muốn chỉ trích, ta nên tự nhắc mình là phê bình người khác sẽ có hại cho mình.

   Khi để cho sự phê bình, chỉ trích lập đi lập lại và trở thành một thói quen, chúng ta đã khắc sâu những nếp tiêu cực vào bên trong.  Chắc là trong chúng ta ai cũng biết một người nào đó có tánh hay phê bình, chỉ trích, và khi nghe họ nói chuyện thì thật là bực mình.  Vì vậy, chúng ta phải cẩn thận trong việc chỉ trích, và tránh tạo thói quen xấu nơi kẻ khác.  Chúng ta cũng nên ý thức rằng, cứ mỗi khi chỉ trích ai, chúng ta dần dần tạo cho mình một thói quen xấu.

   Ngược lại, nếu nhân cơ hội đó chúng ta quan sát chính xác điều gì đang xảy ra với người khác, chúng ta có thể sử dụng sự nhận xét về các hành vi của họ như một tấm gương cho bản thân.  Đây là một tấm gương rất giá trị, vì tuy rằng nó không thể cho ta thấy hình dáng thể chất của mình, nó có thể giúp ta dấn thân vào một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều của việc tự biết mình.  Trách vụ này khó không những vì chúng ta thiếu nhận thức, nhưng chính là vì chúng ta thích như vậy – chúng ta thường không muốn biết sự thật; chúng ta lo lắng tìm cách lẫn tránh nó vì chúng ta sợ sự thật sẽ làm ta đau lòng.

   Hai trong số tám hiện tượng phổ quát được nhắc đến ở đây: khen và chê trách.  Bận tâm để được khen và tránh bị chê trách rõ ràng là hơi lố bịch, nhưng chúng ta chưa bao giờ thật sự ý thức được điều đó.  Thêm nữa, hai điều này chính là lý do khiến chúng ta miễn cưỡng trong việc tự hiểu mình: chúng ta sợ sẽ tìm ra những điều về bản thân mà ta có thể phải chịu sự chê trách.  Chúng ta vẫn thích mang vải che mắt và tránh cái nhìn toàn diện về bản thân.

   Sự sợ bị khiển trách có thể được giải quyết bằng công thức ‘chấp nhận, không trách móc, sửa đổi.’  Bước đầu tiên là ý thức được sự sợ bị khiển trách, sợ sự bất đồng ý kiến, thiếu hổ trợ, và sợ không được quý trọng.

     Gốc rễ của tất cả mọi nỗi sợ hãi là sợ không hiện hữu.  Sự sợ hãi này ẩn chứa trong tiềm thức của mỗi người chúng ta, và nó có thể dấy lên trong cơn hoảng hốt chỉ vì chúng ta không muốn chịu sự khiển trách. Ngược lại, chúng ta luôn sẳn sàng trách người khác, với lòng tin rằng điều đó không làm hại đến mình.  Nhưng chúng ta đã lầm; vì để cho tiêu cực chế ngự, chính ta mới là người đau khổ.

   Sự sợ hãi bị khiển trách cũng giống như sợ chết, hay là sự sợ cho cái tôi, cái tự ngã.  Xét cho cùng, đó là sự sợ hãi không còn được hiện diện trên thế gian này nữa.  Dĩ nhiên, khi dự đoán phải bị trách móc, chúng ta không sợ thực sự bị tan biến đi ngay tại chỗ, mà chỉ sợ đánh mất sự tự mãn, là điều tùy thuộc nơi sự quý trọng của người.

   Việc này rõ ràng thật điên rồ, nhưng đa số đều hành động như vậy, và có người còn tệ hại hơn, đến độ luôn phải cố gắng làm hài lòng tất cả mọi người.  Nhưng làm sao chúng ta có thể hy vọng làm được việc này? Trước hết là chúng ta không biết tình cảm hay ước muốn của người khác như thế nào.  Thế nhưng, tuy chúng ta không thể làm hài lòng tất cả, chúng ta có thể luôn cố gắng làm những gì tốt đẹp nhất.

    Trên thực tế chúng ta ai cũng muốn được xưng tụng, khen ngợi.  Mọi việc ta làm đều hướng về mục đích này, nhưng nếu quá bức xúc với mong muốn này, chúng ta sẽ bị sự sợ hãi chế ngự, khiến ta không có cái nhìn khách quan.  Nói cách khác, chúng ta sợ bị chỉ trích.  Để có thể loại bỏ sự sợ hãi này, chúng ta nên bắt đầu bằng cách tự mình cố gắng không quá phê phán, vì biết rằng những gì mình làm sẽ quay lại với mình, như vũ khí săn bắn tên boomerang (3) của người thổ dân châu Úc.

   Bước đầu tiên đi đến sự hiểu biết về luật nhân quả - là những điều có thể quan sát được khắp nơi trong vũ trụ - không đủ để giúp ta vượt qua tất cả sợ hãi.  Bước thứ hai liên hệ đến sự hiểu biết về bản chất của sự sợ hãi.  Trong cuộc truy tìm sự chấp nhận của tha nhân, chúng ta trở thành nô lệ của môi trường chung quanh mình. Ngày nào môi trường này còn không được như ý mình, hay không vĩnh viễn làm cho mình cảm thấy tuyệt vời, thông minh, đẹp đẽ, chúng ta sẽ còn tiếp tục cảm thấy không thoải mái.  Một thái độ như thế sẽ khiến cuộc sống của ta vô cùng khó khăn, và ngăn trở sự tiến đến việc tự biết mình.

   Ngược lại, sự tự biết mình thật trung thực rất cần thiết để giúp chúng ta buông xả, kể cả buông xả sự lo sợ bị chê trách. Chúng ta chỉ có thể buông xả những gì tự mình đã nhận thức rốt ráo, cũng không cần thiết phải hoán chuyển sự sợ hãi bị chê trách thành sự sợ tự biết mình; việc chúng ta có thể buông xả cái ngã sau khi đã hiểu được nó, không có nghĩa là ta đã chết. Nó chỉ có nghĩa là sự vị kỹ (self-centredness) không còn là quyền lực tối ưu trong cuộc đời ta.  Mọi việc không nhất thiết phải luôn theo như ý mình. Thay vào đó, chúng ta dành một khoảng không gian bên trong ta cho những gì thật sự đúng.  Chúng ta rồi sẽ hiểu rằng vì có những uế nhiễm trong mọi khía cạnh của đời sống hữu lậu, nên sẽ không bao giờ tìm được gì toàn hảo bất kỳ ở nơi đâu. 

Dụng cụ bằng gỗ của thổ dân Úc, có nhiều hình dáng, kích cỡ, sử dụng cho nhiều mục đích.  Có đặc tính là khi vứt đúng cách, nó sẽ quay trở lại hướng người vứt. 

Chỉ cần nhìn vào khía cạnh của vô thường: tất cả những gì đến rồi phải qua đi, không có gì là trường cữu.  Nếu chúng ta cố bám víu vào một kỹ niệm nào đó, nó sẽ như cát rơi xuống khỏi lòng bàn tay ta.  Dĩ nhiên, tính chất luôn biến đổi của sự vật đôi khi trở thành lý do cho sự chê trách, nhất là khi người khác làm cho mình thất vọng vì lỗi hẹn hay không làm xong việc ta giao phó.

   Không ai lại đi chỉ trích một ngôi sao trong bầu trời khi nó trở thành một sao băng sáng rực rồi tan biến đi – chúng ta biết trách móc như thế thật là vô nghĩa vì nó chỉ là một hiện tượng thiên nhiên. Nhưng trong thực tế đây là bản chất thật sự của vạn vật, nên khi ta than phiền về tính biến thiên của tất cả mọi thứ khác trong vũ trụ thì cũng vô nghĩa như vậy.  Tất cả những hiện hữu có điều kiện đều không toàn hảo. 

   Đây là lý do tại sao chúng ta nên nhìn lại mình mà không sợ hãi, và xét xem những gì chúng ta không thích ở người.  Chúng ta không thích thói xấu của họ?   Ta nên tự xét lại các thói xấu của mình.  Ta không thích tính luôn muốn được chú ý tới của họ?  Có thể ta cũng muốn là trung tâm của vũ trụ?  Bằng cách này, chúng ta sẽ ngày càng biết rõ mình hơn.

   Tất cả chúng ta đều biết những nỗi sợ hãi luôn dấy khởi, khi thử trắc nghiệm như sau:  ‘Có lẽ mình không phải là người tốt như mình nghĩ – và nếu mình không được tốt như vậy, người khác sẽ chê trách mình.’  Tôi gọi đây là ‘lối suy tư hướng về kết quả’; chúng ta thấy rất sợ hãi vì sự đe dọa này, như là bị roi quất vào người, khiến thân xác đau đớn.  Chúng ta muốn rằng mọi việc phải thật đúng, thật toàn hảo.  Nhưng ta muốn điều gì hoàn hảo chứ?  Trong vũ trụ này, vạn vật tiến hành theo lề lối riêng của nó, và cứ liên tục như vậy.  Sông chảy, nếu ta ngăn chúng lại sẽ gây ra lũ lụt.  Cuộc sống tiếp diễn, khi ngày này hết thì một ngày mới lại bắt đầu. Tại sao chúng ta không đặt mình vào dòng luân lưu của vạn vật, và hãy thôi nghĩ đến việc phải mang vào dòng luân lưu này tất cả những gì toàn hảo?

   Điều này có thể áp dụng trong việc hành thiền cũng như với bất cứ chuyện gì khác. Dầu ta có thể đang ngồi lặng yên trên gối thiền, không bị ai nói gì hay phê phán gì, nhưng ta vẫn đang tạo áp lực cho bản thân, khiến trở ngại việc hành thiền.  Nếu nghĩ rằng việc hành thiền phải toàn hảo thì chúng ta sẽ không thể thiền quán mà luôn đương đầu với lo âu.

   Thật là vô ích khi mong muốn làm tất cả mọi việc toàn hảo; chúng ta chỉ có thể cố gắng làm hết sức mình.  Chúng ta cũng sẽ vui hơn nếu bỏ được ước muốn được người khác biết ơn. Dĩ nhiên, nếu có ai tỏ lòng biết ơn, cảm kích, hay hoan hỷ vì những gì mình đã làm, thì đó cũng là điều tốt, nhưng là tốt cho họ.

   Chúng ta nên nhớ rằng mình cũng luôn thay đổi.  Năng lượng và năng lực của chúng ta lên xuống liên tục. Điều này cũng đúng trong việc hành thiền. Đôi khi tâm trí ta có thể tập trung rất nhanh; những lúc khác, có thể vì phải gạn bỏ quá nhiều tư tưởng nên phải mất cả giờ đồng hồ mới tìm được sự tĩnh lặng. Khả năng tập trung hay phân tán tư tưởng này thường do ta liên tưởng đến 'cái ngã' – ta tự gây ra cho mình- nhưng tại sao ta cảm thấy cần thiết phải làm vậy?  Tất cả cũng vì tâm ta không ngừng thay đổi.

   Nếu chúng ta có thể thấy mọi thứ biến chuyển trong ta như thế nào thì ta sẽ có thể kết luận ở người cũng thế.  Nếu ai đó cư xử không phải phép, chúng ta phải mừng rằng họ sẽ thay đổi, hy vọng là tốt hơn.  Vậy thì, càng chánh niệm về lẽ vô thường - nhất là sự vô thường của những hành động xấu – chúng ta sẽ thấy dễ buông bỏ tánh vạch lá tìm sâu, tìm lỗi của người nữa.

   Như chúng ta đã thấy, những gì ta chê trách nhất ở người là những tính cách ta cũng ít thích nhất nơi bản thân.  Chúng ta cũng đã thấy rằng nếu thỉnh thoảng ta bỏ thì giờ để quán sát, tìm hiểu các thói xấu này, ta có thể nỗ lực khắc phục được chúng.  Tuy nhiên, trong tiến trình này, chúng ta có thể phải chịu sự chỉ trích khắc khe, vì trong lúc những hành vi ta đang quan sát có thể giống hành vi của ta, người mà ta đang chỉ trích có thể không nỗ lực để cải thiện chúng như ta.  Một thái độ như vậy tạo ra rất nhiều va chạm trong sự liên hệ giữa người với người; điều này không nhất thiết được biểu lộ ra ngoài, dầu vậy ta vẫn chất chứa cảm giác không tán thành, chống đối.  Chúng ta nên luôn luôn cố gắng chấp nhận tha nhân, và cố kiềm chế sự phê bình họ.  Điều này cũng ứng dụng với chính mình nữa.  Chúng ta không nên bắt bẻ, bới móc lỗi người, mà hãy luôn tự nhắc mình nhớ đến công thức, ‘Chấp nhận, không trách móc, sửa đổi.’

   Trong phần đầu –soi thấu rõ được bản thân– là phần khó nhất.  Phần thứ hai –không trách móc– cũng không dễ thực hiện, vì tâm ta tự động có phản ứng tiêu cực đối với bất cứ cảm giác khó chịu nào. Tất cả những gì chúng ta không thích về mình -tất cả những gì ta không thể chấp nhận và muốn thay đổi - tạo ra những cảm giác khó chịu và tự trách, rồi con đường đi đến tự giác có thể biến mất khỏi tầm nhìn. 

   Sự thấu hiểu về vô thường giúp ta dễ dàng quán chiếu bản thân. Khi đã rõ rằng mọi vật ta đang thấy trước mắt biến mất đi ngay lúc đó, thì việc tránh không tự trách mình sẽ trở nên dễ dàng hơn.  Tất cả mọi vật đến, sẽ đi và không trở lại nữa – và không có gì đến sau đó sẽ giống như cái đến trước, dù chúng có vẻ giống nhau đến đâu.  Bằng cách quán sát vô thường như thế, ta có thể bắt đầu sẳn sàng chấp nhận bản thân và tha nhân hơn.

   Nhận thức được bản chất thật sự của những gì mà ta chê trách ở người giúp ta có cái nhìn mới mẻ về bản thân. Chúng ta dứt bỏ được những gì làm mình khó chịu không phải bằng cách quay lưng lại với người có các lỗi này, nhưng bằng cách không còn bắt người khác chịu trách nhiệm vì họ không như ý ta muốn.

   Trong tiến trình này chúng ta có thể nhận thức được cả vô thường và khổ đau.  Ý thức được rằng khổ đau đến từ chính những phản ứng tiêu cực của mình, trong đó có cả sự sợ bị chỉ trích, sẽ giúp ta dễ kiềm chế việc phê bình tha nhân. Chúng ta có thể thấy rõ rằng hầu như mọi người đều biết nỗi bất an do không được ủng hộ, chấp nhận, và rằng sự lệ thuộc nơi người khác thật vô cùng khó chịu.

   Làm sao chúng ta biết người khác nhận xét về mình có đúng không?  Chúng ta có bao giờ thức tỉnh để biết rằng tất cả đều bị kẹt trong cái bẩy ảo tưởng khiến không thể nào ta có được một quan điểm thật sự khách quan? Ảo tưởng đó là tất cả chúng ta đều là những cá thể riêng biệt và rằng nếu đủ khôn ngoan để sắp xếp mọi thứ đúng cách, ta có thể có những sự dễ chịu riêng. 

   Tất cả mọi người đều sống với ảo tưởng này, khiến họ khao khát hiện hữu và lo sợ bị hủy diệt. Vậy thì làm thế nào để người khác xác nhận sự hiện hữu của chúng ta?  Mọi sự sợ hãi phản ảnh nỗi sợ hãi bị hũy diệt.  Sự sợ hãi không chỉ giới hạn trong sự sợ cho sự hiện hữu của thân xác, mà bao gồm cả sự hiện hữu của cảm xúc, sự xác định của bản ngã. Nhưng nếu ý thức được sự sợ hãi này, chúng ta cũng có thể phát triển một sự cảm thông sâu sắc đối với tha nhân, vì tất cả nhân loại đều khát khao sinh tồn khiến phát sinh nỗi khổ đau lớn lao nhất.

   Nỗi sợ hãi với gốc rễ đã ăn sâu này làm cho con người không thể hoàn toàn được mãn nguyện, và một khi đã hiểu được sự tương quan này, chúng ta sẽ không còn đi tìm sự mãn nguyện một cách sai lầm nữa. Thay vào đó, chúng ta sẽ cố gắng chuyển hóa những khó khăn của kiếp con người do ngã tưởng gây ra.  Tuy nhiên, trước hết chúng ta phải nhận diện được nỗi lo sợ của việc tự soi xét một cách chân thực, cùng với nỗi lo sợ bị người khác chê trách, và ý muốn chỉ trích lại, tất cả là do sự thúc đẩy của nhu cầu muốn tâng bốc tự ngã.  Khi kết tội người khác, ta cảm thấy dễ chịu hơn.  Nếu chấp nhận rằng tất cả chúng ta ai cũng có khiếm khuyết, thì ta tiến gần đến sự thật hơn.

   Nhận thức này đưa ta tiến xa hơn đến sự hiểu biết về những thiếu sót cơ bản của sự hiện hữu ở cõi nhân sinh hữu lậu này.  Chỉ khi nào chúng ta ý thức được sự khiếm khuyết này thì ta mới cảm thấy thôi thúc phải vượt lên trên cõi này – dĩ nhiên không nói về thể chất, nhưng trong ý nghĩa để buông bỏ được ngã tưởng.  Những khó khăn chúng ta đã vượt qua sẽ không còn quấy nhiểu ta nữa, và chúng ta sẽ đạt được tri kiến về những vấn đề khác đang còn gây khó khăn cho ta.  Chúng ta sẽ có thể thấy là mình chưa chuyển đổi được các vấn đề khi chúng vẫn còn phiền nhiểu ta.  Chẳng hạn như, khi đọc những tin tức không hay và ngay lập tức cảm thấy lòng ta đầy bực tức, ta có thể tự biết rằng mình chưa bỏ hết được những tham lam, sân hận của mình.  Thế giới vẫn còn đầy bao biến động, nhưng bực bội, kết tội chỉ cho thấy là sân hận vẫn còn đầy trong ta.

   Chúng ta sinh ra với sáu gốc rễ -ba rễ tốt và ba rễ xấu– thế nên việc lên án bản thân hay tha nhân thật là vô ích.  Vấn đề là nhận thức được bản chất của những gốc rễ này, và tự nguyện hỗ trợ cho những rễ tốt phát triển, đồng thời làm giảm bớt các rễ xấu.

   Dĩ nhiên, các gốc rễ xấu là tham, sân, và si (vô minh trong ý nghĩa về ngã tưởng).  Những đối nghịch của chúng cũng rất quen thuộc với chúng ta.  Nếu chúng ta có thể thấy ba gốc rễ thiện - bố thí, tình yêu thương vô điều kiện, và trí tuệ - nơi tha nhân, thì ta có thể kết luận rằng chúng cũng có mặt trong ta.  Thực ra, chúng ta biết rất rõ ràng phải thực hành khi nào, ở đâu và như thế nào. Ngôn từ và giới luật, tự chúng, không bao giờ đủ cả, nhưng ta đã có đủ trí tuệ trong ta để cảm nhận được sự thật khi nghe đến nó, và biết có thể tìm được nó ở đâu.

   "Ai thấy lỗi của người

  Thường sanh lòng chỉ trích

  Người ấy lậu hoặc tăng

  Rất xa lậu hoặc diệt” (2)

       ‘Dứt bỏ tham muốn’ là một cụm từ khác để chỉ sự hoàn toàn thanh lọc.  Có nghĩa là tham sân không còn có mặt, và khi chúng đã bị hủy diệt thì ta đã đến rất gần với sự giác ngộ hoàn toàn.  Cho đến lúc đó, theo những lời Đức Phật dạy rất rõ ràng này, chúng ta cần phải nỗ lực luyện tâm, vì khi nào chúng ta còn chê trách, chúng ta sẽ không ý thức được những động cơ thật sự của mình và không thể sửa đổi chúng.

   Các động cơ này chính là hai cội rễ của tham và sân. Cả hai khởi nguồn từ vô minh, tăm tối, từ ảo tưởng đưa ta đến việc tin rằng thật sự có ‘một ai đó’. Nói một cách tương đối, rõ ràng là chúng ta đang ngồi đây trên gối thiền, nhưng dựa trên chân lý tuyệt đối thì hoàn toàn khác.  Khi ta còn sống theo chân lý tương đối, khi 'tôi’ hiện hữu trong tương quan với ‘anh’, chúng ta tự thấy mình tách biệt với tha nhân, nên muốn tự bảo vệ bằng cách xây những bức tường quanh mình. Chúng ta dựa vào những động cơ này để làm như vậy, và bất cứ khi nào chúng ta còn tiêu cực, thì các động cơ này càng thêm cường độ.

   Đây là lý do khiến cho việc luôn quan sát một cách chánh niệm các phản ứng tình cảm của mình trở thành rất quan trọng - giữ chánh niệm về chúng không ngừng, khi chúng xảy ra, ngay cả khi ta không thể buông bỏ được chúng.  Một khi ta đã nhận biết được các phản ứng này, ta cũng nhận thấy chúng gây ra bao bồn chồn, và do đó rất độc hại cho sự an tĩnh mà ta cần có để hành thiền. Trong đời sống hằng ngày, thật không dễ gì thấy được sự khác biệt giữa một tâm tĩnh lặng và một tâm lăng xăng, nhưng khi hành thiền qua một thời gian, sự khác biệt này sẽ rõ ràng hơn. Ta sẽ thấy rằng những phản ứng của ta không chỉ gồm có chỉ trích mà thôi; gốc rễ của chúng có thể được truy trở về từ tham ái, sân hận, và từ sự sợ hãi.

   Theo Đức Phật, dục vọng của ta tăng lên khi ta thấy lỗi của người, và tự cho phép mình có những phản ứng tiêu cực, vì điều này củng cố thêm tâm phân biệt của chúng ta, và tâm này càng làm cho ngã tưởng thêm sâu dày. Ngược lại, các mối liên hệ của ta với người cũng có thể giúp ta có được sự hiểu biết sâu sắc hơn, nếu ta ý thức rằng tha nhân cũng phải tuân theo luật vô thường, khổ đau, và bất như ý như bản thân ta. Thực ra, chúng ta nên xem các tương quan với người như là những cơ hội để tu tập, và nếu biết sử dụng chúng, ta sẽ được những lợi lạc từ một hệ thống giáo dục hàng đầu.  Thật vậy, chúng ta có thể xem toàn bộ cuộc đời của mình là một cơ hội học hỏi liên tục. Tất cả các mối liên hệ có thể là phương tiện để huấn luyện chúng ta trong tình thương yêu, bi mẫn, và là một cơ hội tuyệt hảo để hiểu biết về bản thân.

   Nếu chúng ta xua đuổi hay trách móc ai, tâm chúng ta sẽ không an. Ngay khi ta vừa buông bỏ cái cảm giác của sự khắc khe, niềm an lạc trở lại với tâm. Buông xả thật không dễ, nhưng có nhiều sự hiểu biết nhỏ có thể giúp ta trên con đường tiến đến đó, ví dụ như, sự hiểu biết rằng chính ta đã tạo ra sự bất an này, và rằng chính nó làm hại ta.

   Nếu tiếp tục suy gẫm về vô thường và khổ, chúng ta sẽ bắt đầu hiểu rằng cả vũ trụ đều phải tuân theo chúng. Tất cả mọi vật đều ở trong tiến trình phân hủy không ngừng nghỉ, hoại diệt, rồi lại tái tạo. Chính vì sự chuyển động không ngừng của mọi vật mà không có gì có thể hoàn toàn vừa ý cả. Một khi nhận thức được lý vô thường trong mọi vật, chúng ta sẽ không còn khổ đau vì nó. Xét cho cùng, chúng ta chỉ là một trong cộng đồng của sáu tỉ người, mà mỗi chúng ta ai cũng bị luật vô thường chi phối.

   Chúng ta có thể áp dụng những nguyên tắc tổng quát của vô thường và khổ cho bất cứ tình huống nào. Đây là bước kế tiếp trên con đường dẫn đến sự tỉnh thức, và ta phải quan sát những tính chất này trong tất cả mọi vật quanh ta. Chúng ta rồi sẽ thấy không có gì là hoàn toàn như ý, và tất cả là vô thường. Khi quán sát như thế, không thể có ngoại lệ nào. Tất cả phải được kể đến. Chúng ta không thể nói, ‘Tôi đã kinh qua khổ đau, nhưng người làm tôi quá đau khổ thì chẳng ra gì.’  Thật ra, người đó cũng chiêm nghiệm khổ đau nhiều như ta. Cứ thế dần dần, bằng cách này, chúng ta phát triển một cảm giác là cuộc đời là một tổng thể, không chỉ gồm những hiện tượng cá thể.

   Mỗi khi chúng ta phản ứng bằng sự sợ hãi, tổng số sợ hãi trong đời sống tăng lên. Mỗi khi chúng ta chất chứa uế nhiễm, không hằng thuận, hay trách móc, toàn thể tổng số của uế nhiễm tăng lên. Trái lại, nếu chúng ta hiểu vô thường và khổ, sự hiểu biết này làm tăng thêm toàn thể tổng số trí tuệ thế gian. Nếu chúng ta thấy rõ rằng mỗi cá nhân mang một trách nhiệm cho tổng thể, chúng ta sẽ sẳn sàng hơn để trụ ở tầng mức nơi ta không còn thấy sự phân biệt giữa mọi vật.

   Mỗi việc làm tốt góp thêm cái thiện cho cuộc đời, vì chúng ta là cuộc đời. Cảm xúc, tư tưởng, ngôn từ, và hành động của chúng ta là yếu tố cấu tạo nên thế giới này.  Trên căn bản này, thật là thiển cận khi chỉ trích hay phê bình, vì làm như vậy là đã quên đi những đặc tính căn bản hay ‘những dấu hiệu’ của sự hiện hữu, đó là vô thường, vô ngã, và khổ.  Chúng ta hành thiền càng lâu, và càng thâm nhập, suy gẫm sâu xa hơn về những sự thật phổ quát của Pháp, chúng ta càng thấy dễ chánh niệm hơn về những đặc tính này của sự hiện hữu, và dễ áp dụng chúng vào đời sống hằng ngày.

   Dựa trên chân lý tuyệt đối, không có những thực thể tách biệt, tất cả mọi vật là do duyên khởi, nhưng trên bình diện tương đối mọi người đều mang trách nhiệm phải phát khởi điều thiện. Sợ hãi là một đặc tính có thể truy nguyên từ lòng tham muốn được là những cá thể với bản chất cố định, biệt lập, và muốn có một đời sống luôn vừa ý mình.  Cả hai tham muốn này đều không thực tế: chúng ta không thể nào sống mãi trong cuộc đời này và mọi việc không thể nào luôn luôn được như ý mình muốn, do đó sợ hãi phát sinh từ cả hai mục tiêu đó và làm cản trở con đường của chúng ta. Sợ hãi có thể là một cảm xúc rất mãnh liệt.  Có câu nói rằng ‘sự sợ chết còn tệ hại hơn cái chết’. Tương tự, một cảm xúc như thế làm mất khả năng duy trì sự tỉnh thức trong ta. Hầu như mọi thiền sinh đều biết rằng sợ hãi có thể phát sinh trong lúc đang tập trung tư tưởng, khi đột nhiên cảm nhận về bản ngã của họ tạm thời vắng bóng. 

   Một khi chúng ta đã chế ngự được sự sợ hãi này, bước kế đến là ý thức rằng chúng ta đang theo đuổi điều không tưởng. Rồi thì điều mơ ước, hay đúng ra là sự thôi thúc, được vượt lên mức độ hiện hữu của con người phàm phu này sẽ phát triển.  Sự sợ hãi phát sinh trong tiến trình này cần được từ bỏ, không phải chỉ một mà nhiều lần, bất cứ khi nào ta có cảm giác là bản ngã của mình bị đe dọa.  Căn bản sự sợ hãi này cũng giống như khi ta bị trách cứ, hay bị khước từ cái bản ngã mà ta khát khao.  Có nhiều tên khác nhau cho sự sợ hãi, nhưng căn bản đó là sự sợ hãi không được hiện hữu.

  Thuốc giải độc hiệu nghiệm nhất cho thói tìm lỗi của ta và tha nhân là sự chứng nghiệm được sự thật về vô thường và khổ. Tự bảo mình ‘Tôi không nên tìm lỗi’, thật sự không đủ.  Chúng ta có lẽ đã biết điều này lâu lắm rồi.  Điều khó khăn là chúng ta thường hay bị lôi cuốn vào những gì chúng ta nên tránh xa.  Nói đến điều này, có lẻ chỉ có thái độ dấn thân với trí tuệ, mục tiêu chính của việc hành thiền, mới có thể giúp được ta.

   Thiền được coi như là phương cách giúp chúng ta chiêm nghiệm bản thân một cách sâu sắc hơn, và đó là lý do tại sao thiền định cần được hỗ trợ bằng sự trầm tư, quán chiếu, để làm tăng trưởng sự tự biết mình: Chúng ta đã nuôi dưỡng sự sợ hãi trong ta đến mức độ nào?  Chúng ta sợ đánh mất mình đến đâu?  Tự soi xét như vậy đưa ta đến gần hơn với sự thật.  Vấn đề quan trọng ở đây không phải là chúng ta có thể buông xả sự sợ hãi ngay tức khắc hay không, mà là chúng ta có thể đạt được những hiểu biết mới mẻ qua sự tự quán chiếu.

   Chúng ta có thể học nhiều điều từ lỗi lầm của người. Nhưng trên hết, chúng ta có thể hiểu được rất nhiều về bản thân; khi được như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy tương quan, đoàn kết với người, như thể họ là anh chị em của mình.  Trái lại, khi nào chúng ta còn tự tách biệt và quá chú trọng đến những sự khác biệt cá nhân, thì lòng tham, sân sẽ càng lớn mạnh thêm.

---o0o---

Mục Lục >> Chương 4 >> Chương 5

---o0o---

Nguồn: chuyenphapluan.com

Trình bày: Nhị Tường.

Cập nhật: 11/2006

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2012

Măng xào đậu hũ – Tuệ Lan

Măng xào

Khi siêng thì chế món nọ món kia, lúc làm biếng chỉ xào một chảo măng với đậu hũ thế này và dằm chén mắm ớt chay cũng xong bữa, ngon miệng.

Tuệ Lan

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

Cơn ác mộng của tuổi già trong viện "Dưỡng Lão"!

NYT2009082319344669C

Ai cũng ao ước "ra đi" dễ dàng, nhưng mâu thuẩn là sợ chết hơi sớm… hơn mình nghĩ. Mà chết hơi… muộn thì đọc bài nầy sẽ biết thêm… như vậy đó.!!!!

Thật vậy, "Viện dưỡng lão" hay "Nursing Home" từ lâu đã là cơn ác mộng của người già, người bệnh cũng như những người mất năng lực tự vệ. Hai chữ "Nursing Home" là hai từ đánh thốc vào tim tạo nên các cơn kinh hãi của các cụ cao niên. Trên trang mạng chuyên môn về Nursing Home, "Consumer affair Complaints & Review" nơi người dân có thể kiện cáo, phàn nàn về những vấn đề tắc trách, ngược đãi người già của các viện dưỡng lão, đã đăng tải và nêu ra những vấn đề nghiêm trọng cần được mọi người quan tâm.

Những viện dưỡng lão ngày nay có quá nhiều nhân viên thiếu khả năng chuyên môn, ít nhiệt tâm và không được huấn luyện kỹ lưỡng. Việc điều hành của các nhà dưỡng lão hầu hết đều kém và thiếu sự sắp đặt. Con số người bị ngược đãi, bỏ mặc trên cả hai phương diện sinh lý lẫn tâm lý đã lên tới con số hàng chục ngàn người, và còn tăng hơn với sự cắt giảm tài trợ của chính phủ hiện nay do ngân quỹ tài chính thiếu hụt. Họ bị bỏ mặc với những cơn đau trong nhà dưỡng lão như bị quăng vào một thùng rác và chịu đựng những bệnh nhiễm trùng đe doạ tới mạng sống. Họ còn bị bắt nín lặng, khỏi than phiền, kêu cứu hay la lối trước các cơn đau, rối loạn tâm thần hoặc tuyệt vọng, bằng cách được cho uống thuốc an thần một cách rất thản nhiên.

Tôi được một người bạn từng là cựu điều dưỡng viên trong viện dưỡng lão ở Quận Cam, Hoa Kỳ, cho biết và xin kể lại những câu chuyện thật về việc đối xử tệ hại các cụ cao niên ở đấy cho bạn đọc xem ở phần cuối bài.

Sự bê bối của các viện dưỡng lão đã được che đậy một cách khéo léo trước con mắt công luận nên có rất nhiều trường hợp các cụ bị bỏ bê và ngược đãi mà không ai biết. Tất cả mọi việc xảy ra đều do việc thiếu tài trợ, thiếu công quỹ, thiếu nhân lực, thiếu huấn luyện và thiếu sự thanh tra thường trực.

Có những thân nhân của người bị ngược đãi báo cáo và than phiền về việc các cụ bị ngược đãi với ban quản trị, đã bị làm khó dễ, bị trừng phạt hay bị ngăn chặn khi vào thăm các cụ với lý do là làm trở ngại điều hành của viện. Chính bản thân người bị ngược đãi còn bị trả thù bằng nhiều cách thâm độc mà người mất bản năng tự vệ không sao chống trả được. Như trường hợp một cụ bà sợ đòn thù mà không dám báo cáo gì, dù thấy người chồng yêu quý của mình bị bạc đãi vì các cụ chẳng có con cái để tỉ tê kể lể, hay có cũng chẳng bao giờ chúng màng viếng thăm.

Nhắc đến viện dưỡng lão ai cũng sợ nhưng tại sao con số người già và bệnh bị đưa vào đó ngày càng tăng vì nhiều lý do.
Hoa Kỳ hiện nay có khoảng 36 triệu người già trên 65. Với thế hệ "Baby Boomer" lần lượt về hưu cho tới năm 2050, con số các cụ cao niên sẽ tăng cỡ 86.7 triệu. Do đó, với số lượng người già cao như vậy, nhu cầu đòi hỏi thêm các viện dưỡng lão có dịch vụ chăm sóc y tế thường trực là điều tất yếu.

Hiện nay vào khoảng 91% của 1,650,000 người ngụ cư trong viện dưỡng lão tại Mỹ là người già trên 65 tuổi. Hơn phân nửa các cụ có số tuổi từ 85 trở lên. Hầu hết những trường hợp được đưa vào đấy do những nhu cầu bệnh lý đòi hỏi phải có sự trợ giúp thường trực của y tá hay vật lý trị liệu mà chỉ các viện mới có khả năng cung cấp. Những người bệnh này thường đã bị hàng loạt những bệnh mất năng lực về thể chất lẫn tinh thần hoặc họ có thể yếu đến nỗi không thể di chuyển, tự tắm rửa hay tự ăn uống được. Nhiều người trong số này được xem như những bệnh nhân cần có người chăm sóc suốt đời vì họ không bao giờ có thể hồi phục để có thể tự chăm sóc lấy mình và khả dĩ có thể cho về nhà được. Tương lai của họ một là sẽ chết trong viện, bị chuyển vào nhà thương khi bệnh nghiêm trọng và chết ở đó hay bị trả về viện để chết. Trung bình cứ mỗi 100 cụ ở viện dưỡng lão trong chu kỳ một năm, có 35 cụ sẽ chết, 37 cụ khác bị đưa vào nhà thương nơi các cụ có thể chết ở đó, được bình phục hay trở về viện.

Theo một bài báo cáo về sự ngược đãi trong Viện dưỡng lão của phóng viên Vince Gonzales, đài CBS thì người Mỹ rất sợ phải vào Nursing Homẹ. Đó là nơi cuối cùng mà bất đắc dĩ họ phải đi vào. Một cụ già 85 tuổi khi không thể sống một mình được nữa mà con cái ngại ngần khi phải mang cha mẹ về chăm sóc thì "cái gì đến, nó phải đến thôi." Cụ Alice Oshatz bắt đầu khóc khi được hỏi cụ nghĩ sao khi cụ trở thành một người bị phế thải trong viện dưỡng lão.

Việc bê bối của các Viện dưỡng lão không phải là vấn đề riêng của Mỹ mà nó cũng xảy ra ở các nước khác như Gia Nã Đại, Úc và cả ở Việt Nam. Viện nghiên cứu thông tin y tế Canada cũng có những công bố báo cáo cho biết, trong số những người già của Canada sống lâu dài tại viện dưỡng lão, có tới 44% mắc chứng trầm cảm, tình trạng thể chất và chất lượng cuộc sống đều không tốt đẹp. Theo bản cáo trạng của hiệp hội Ontario Federation of Labour thì các người già cư ngụ tại các viện dưỡng lão bị để nằm hàng giờ với tã ướt sũng nước tiểu.

Riêng những người già tị nạn Việt Nam ở đất Mỹ cũng rất sợ bị đưa vào viện dưỡng lão. Khi các cụ lớn tuổi thường tìm về các nơi có nhiều người Việt để ở. Họ hoặc ở chung với con cháu hay ở trong các chung cư dành cho người già với lợi tức thấp. Có cụ ở trong các khu nhà tiền chế (mobile home) và vui thú điền viên ở đó. Nhưng khi tuổi thọ tăng cao, thì sức khoẻ các cụ xuống dần và lúc đối đầu với bệnh nặng ắt hẳn phải tới. Chuyện không thể tự chăm sóc lấy mình sẽ đương nhiên xảy ra khi bệnh trạng các cụ tới thời kỳ nghiêm trọng. Xác suất con số người thân vì phải mưu sinh hay bận rộn không có thời giờ chăm sóc các cụ được rất cao. Con số các cụ có người thân khá giả, thuê y tá hay điều dưỡng đến nhà ăn ở, nấu nướng và chăm sóc cho không nhiều. Các cụ thường bị lẫn, mất trí nhớ không nhận ra được cả người phối ngẫu hay người nhà và còn không cho họ tới gần. Cụ thì đổi tính trở nên khó khăn, gắt gỏng, nghi ngờ tất cả mọi người do trầm cảm hay phản ứng phụ của thuốc hoặc do hậu quả của các cơn đau hành hạ. Điều quan trọng nhất là có nhiều cụ cần sự theo dõi thường xuyên của y tá mà điều kiện tài chánh của con cái không đài thọ nổi, thế là các cụ bị đưa vào viện dưỡng lão.
Những cụ lo xa thường về hẳn bên VN ở, để có con cháu hay người làm chăm sóc dùm. Tuy nhiên điều kiện y tế và vệ sinh bên VN kém và thiếu chuyên môn. Trong trường hợp nếu các cụ bị lâm vào các tình trạng mất năng lực hay trong tình huống khẩn cấp mà không được chăm sóc y tế chu đáo hoặc kịp thời, nguy cơ rủi ro xảy ra cho tính mạng rất cao. Thành ra được cái này lại mất cái kia. Phần quan trọng nhất là chi phí y tế bên VN các cụ hay người nhà phải tự trả, trong khi ở Mỹ, nếu là công dân trên 65 tuổi hầu như các dịch vụ y tế chính phủ đài thọ gần hết.

Trong một cuộc phỏng vấn về Nhà dưỡng lão cho người già, Thạc sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh phát biểu:
"Việt Nam có thuận lợi trong vấn đề chăm sóc người cao tuổi khi văn hóa truyền thống coi trọng đạo lý "kính già", được xây dựng trên tinh thần "trọng lão, trọng xỉ". Tuy nhiên vấn đề này cũng có khá nhiều khó khăn, tồn tại. Khi ngày nay các giá trị gia đình khủng hoảng, mâu thuẫn thế hệ gia tăng đã dẫn đến tình trạng nhiều người cao tuổi không sống cùng với con cháu hay con cháu bỏ rơi cha mẹ, chối bỏ trách nhiệm chăm sóc người cao tuổi. Ở góc độ xã hội, nhà dưỡng lão, cơ sở xã hội, dịch vụ của chúng ta còn thiếu, phát triển còn lộn xộn, thiếu quy hoạch và chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn chăm sóc. Trình độ, năng lực của cán bộ y tế, điều dưỡng viên cũng còn hạn chế. Giá các dịch vụ tư nhân còn quá cao so với túi tiền của người cao tuổi…."

Ngoài ra, Ông Nguyễn Tuấn Ngọc, Giám đốc Trung tâm chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Từ Liêm cho biết, chữ "nhà dưỡng lão" ở Việt Nam còn chưa chuẩn. Ở đây, chỉ nên gọi là các Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người cao tuổi thì đúng hơn."

Trong một bài báo, vấn đề cẩu thả và chăm sóc người già không đúng mức ở các nhà dưỡng lão VN cũng bị phanh phui giống hệt ở nước ngoài.

Ở Mỹ, nếu có thì giờ nghe chuyện thì có khoảng 300 triệu câu chuyện kinh khủng để kể về viện dưỡng lão. Người nào trong đó cũng có tâm sự cần thố lộ. Lý do tại sao có quá nhiều chuyện để kể bởi vì viện dưỡng lão giống như một tàn dư hay một phế tích. Lẽ ra Viện dưỡng lão là nơi chăm sóc bệnh nhân và người già nhưng thực tế nó biến thành một cái xưởng dịch vụ, nơi mà người ta được cung cấp dịch vụ nhưng nghệ thuật chăm dưỡng thì bị bỏ quên. Đây là bi kịch của hàng triệu công dân Hoa Kỳ.

Sau đây là những câu chuyện kể lại của một cựu điều dưỡng viên trong một viện dưỡng lão ở Quận Cam Hoa kỳ. Xin phép bạn đọc cho tôi được dấu tên vì những câu chuyện này có thật và đây là ý kiến của một cá nhân nên tôi đã ghi lại với một sự dè dặt như thường lệ.

Ở Orange County, các viện dưỡng lão từ xưa đến nay vẫn do người bản xứ làm chủ và điều hành. Viện thường được chia làm hai khu chính là thường xuyên và bán trú, cùng nhiều khu phụ. Khu thường xuyên dành cho các cụ ở thường trực. Khu bán trú dành cho những bệnh nhân sau khi được giải phẫu ở nhà thương, không đủ tiền lưu lại vì bệnh phí rất cao, nên phải chuyển vào để nằm chờ. Khi bình phục họ sẽ về nhà. Những khu phụ như khu chuyên về phổi, suyễn, hay có khu lẫn lộn cả khuyết tật bẩm sinh. Họ có sắp các khu theo sắc tộc, như khu dành cho người da trắng, khu cho người Việt Nam, Đại Hàn v…v… Nếu thiếu phòng, bệnh nhân phải nằm bất cứ khu nào còn trống. Khi người VN vào đông, các cụ được nhà bếp dành đặc ân cho nấu riêng món ăn Việt. Tuy nhiên, các món Việt chỉ dành cho buổi trưa và tối, còn điểm tâm ban sáng vẫn phải ăn chung các món Mỹ. Các bệnh nhân đặc biệt phải ăn kiêng thì nấu riêng. Ở đây điều dưỡng viên VN ít nên bị điều đi phục vụ toàn viện, không cứ gì phải chăm sóc trong khu có người Việt. Họ thường được gọi đến để thông dịch. Khi khu VN có đông bệnh nhân tới ở, điều dưỡng Việt ưu tiên được làm ở đó.

Theo điều luật định của riêng tiểu bang California, mỗi viện dưỡng lão phải có đủ nhân viên săn sóc cho bệnh nhân, nhất là các dịch vụ khẩn cấp. Một viện có khoảng 100 giường trở lên, mỗi bệnh nhân phải được y tá săn sóc ít nhất 3.2 tiếng mỗi ngày. Y tá phải có bằng như RN, LPN, hay LVN. Những điều dưỡng viên cần có bằng CNA (certified nursing assistant) với nhiệm vụ trợ giúp y tá và các nhân viên y tế săn sóc bệnh nhân. Khi chính phủ state board phái người xuống kiểm tra (thường vào buổi sáng), viện dưỡng lão hay mướn và dồn điều dưỡng lại cho đông và cho một điều dưỡng chăm khoảng 13 người theo luật định để che mắt, và quay phim. Khi điều tra viên đi, tới ca chiều điều dưỡng viên bị giảm xuống và phải chăm tới 16, 17 người bệnh. Ca tối lại còn tệ hơn chăm tới 20 bệnh nhân. Vì nhiều việc quá, điều dưỡng viên làm không xuể, bệnh nhân chắc chắn bị xao lãng và bỏ quên.

Thường thì không ai thích làm cho viện dưỡng lão, những điều dưỡng có bằng hay có kinh nghiệm hay tìm chỗ nhẹ nhàng hơn mà làm. Do đó, các Viện dưỡng lão luôn thiếu người và họ phải tìm những người được đào tạo cấp tốc ở các trung tâm dạy nghề. Những người này đóng học phí cao hơn bình thường và chương trình giảng dạy chỉ trong vài tuần lễ, nên họ được giảng dạy qua loa để mau tốt nghiệp đi làm cho nhanh.

Vì được đào tạo cẩu thả nên các điều dưỡng viên này mất căn bản. Họ thường không theo đúng trình tự của việc chăm sóc bệnh nhân. Họ lại bị sức ép của công việc quá nhiều, nên có nhiều người mất cả đạo đức nghề nghiệp. Họ làm việc ẩu tả và dối trá. Chẳng hạn sáng sớm phải rửa mặt, tắm rửa rồi thay tã và quần áo cho bệnh nhân nhưng họ chỉ làm qua loa lấy lệ, cho xong việc. Có khi nước chưa được ấm, họ xối đại nước lạnh khiến bệnh nhân bị ướt, rét, sưng phổi mà chết. Họ cũng không thay tã theo qui định. Lúc trước, khi chưa có chính sách tiết kiệm, viện cho tối đa một ca (8 tiếng), mỗi bệnh nhân được thay 3 tấm tã, giờ chỉ còn có 2. Thế mà họ cũng làm biếng không thay, để người bệnh ướt đẫm từ sáng tới chiều. Điều dưỡng ca chiều vào, thấy bệnh nhân bị thối tha, khó chịu khóc lóc quá nên ca chiều phải thay. Những điều dưỡng có lương tâm thấy bệnh nhân nào tiểu ít họ dấu tã đi để dành thay cho những người tiểu nhiều. Tã mà để lâu không thay, da sẽ bị nhiễm trùng, lở loét. Có người lúc mới vào không sao, ở lâu trong viện da bị ghẻ lở nom rất ghê sợ. Có những bệnh nhân bất lực không cử động được, bị bỏ quên từ sáng tới chiều, từ chiều tới tối, không được trở mình, máu chỗ nằm không lưu thông, da mềm đi biến thành mủ hay ghẻ trông thật tội.

Người già thường có giấc ngủ trưa, điều dưỡng phải cho họ đi nghỉ trưa. Tuy nhiên, vì làm biếng họ để bệnh nhân ngủ gà ngủ gật trên xe mà không đẩy họ về phòng cho lên giường như qui định.
Lúc về già, nhiều người răng yếu hay rụng, khi được đút ăn họ ăn rất chậm. Đôi khi vì buồn phiền các cụ không muốn ăn, điều dưỡng có quá nhiều việc, lại hết giờ, không đủ kiên nhẫn, họ chỉ đút qua loa nên các cụ trong đó ốm o, gầy mòn và bị đói thường xuyên. Họ làm hết việc thì về rốt cuộc bệnh nhân là người bị thiệt hại.

Ngoài ra còn xảy ra nạn kỳ thị đối với bệnh nhân. Người nào ít có hay không người thân tới thăm hoặc để mắt tới thường xuyên, cơ hội bị bỏ quên rất cao. Các cụ đó có nhấn chuông mỏi tay, đòi thay tã hay giúp đỡ đều bị lờ đi đến phút chót khi điều dưỡng sắp hết ca, họ mới trở lại thay tã cho. Khi các cụ phản đối hay thưa gởi sẽ bị trả thù hèn hạ bằng nhiều cách mà hành hạ là một thí dụ điển hình. Khi được đưa từ giường qua xe hay từ xe qua giường, họ bị liệng nặng tay như quăng một món đồ. Người bệnh có đau chỉ biết khóc thầm và chịu câm nín, không dám báo cáo vì càng khiếu nại càng bị trả thù dã man hơn. Tuy nhiên những điều dưỡng Việt trong đó đa số có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp và đối xử ít tệ bạc hơn. Nhưng đâu phải tất cả các điều dưỡng viên là người Việt mà có đủ các sắc dân, nhất là những điều dưỡng viên nam người Mễ Tây Cơ. Vì cần tiền, họ làm 2 ca, thường là ca chiều và ca đêm. Làm một ca đã mệt, khi ca kế tới, họ tìm chỗ ngủ để nghỉ. Công việc dĩ nhiên bị bê trễ, họ ngụy trang bằng cách lấy chăn mền tấn chung quanh bệnh nhân và có ai tới kiểm tra hay y tá ghé mắt đến, đều yên chí thấy mọi thứ tươm tất sạch sẽ nên bỏ đi, đâu biết rằng bệnh nhân nằm đó bên dưới đầy nước tiểu và phân.
Còn trường hợp cho uống thuốc lộn nữa. Nếu ban điều hành phác giác, người làm lỗi sẽ bị đuổi, không thì thôi. Với những bệnh nhân hay phàn nàn đau nhức, bấm chuông hoài, có khi họ bị cho uống thuốc giả hay thuốc an thần để khỏi tiếp tục kêu ca. Có những trường hợp bệnh nhân vì bị cho vào nhà dưỡng lão nên buồn khổ quá mà trở nên lầm lẫn hoặc đã bệnh còn tăng thêm bệnh vì kiêm thêm chứng trầm cảm.

Những người từng làm việc cho Viện dưỡng lão, những người khách đến thăm viện và quan trọng nhất là những người già sống trong viện, tất cả đều ước mơ các Viện dưỡng lão được thay đổi. Thay đổi làm sao để khi nghĩ tới, nhắc đến, nó không còn là một cơn ác mộng của tuổi già. Đường lối điều hành Viện cần phải tổ chức lại sao cho hữu hiệu. Các y tá và điều dưỡng cần phải được cắt bớt việc. Khi ít bận rộn họ mới có thì giờ để ý và chăm sóc kỹ hơn cho các cụ. Nếu các cụ có muốn tâm sự, họ có thời giờ để lắng nghe. Mà khi các cụ có nơi để kể lể, tâm hồn sẽ phơi phới, đỡ thấy cô đơn buồn khổ nhiều. Phần tâm lý được chăm sóc, bệnh ắt hẳn thuyên giảm. Vấn đề lương tâm và đạo đức nên đặt ra ở đây cho ban quản đốc dù mục đích tối hậu là thương mại. Cần giải quyết, quan tâm và lắng nghe những tiếng chuông kêu của bệnh nhân nhiều hơn. Nên có thức ăn đêm dự phòng trong trường hợp khẩn thiết khi có cụ đói bụng.

Riêng nhịp cầu thông cảm giữa người già và con cái phải được thiết lập ngay từ lúc các cụ chưa được đưa vào viện dưỡng lão. Các cụ cần sửa soạn tâm lý khi đến lúc phải vào viện dưỡng lão mà không cảm thấy quá buồn khổ. Vì càng buồn khổ thì bệnh trầm cảm sẽ làm bệnh tật thêm trầm trọng. Thời buổi kinh tế khó khăn, việc làm khó kiếm, có việc thì quá bận rộn nên con cái bất đắc dĩ mới đưa cha mẹ vào đó. Có nhiều cụ vì sống chung với con cái quen rồi vào đó quá bất mãn, lại cô đơn nên chửi rủa suốt ngày, chửi con cái xong quay qua chửi cả nhân viên trong viện, càng chửi càng bị ghét, càng bị bỏ bê.

Mỗi viện dưỡng lão nên có một khu vườn nhiều cây xanh để người già có cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên, thở dưỡng khí trong lành. Giấc mơ của người già sẽ thành sự thật khi họ được ngồi trên xe lăn được chăm sóc chu đáo trong một khu vườn có chim hót líu lo, sóc chạy tung tăng, đâu đó là tiếng cười đùa khanh khách của vài đứa trẻ. Đời sống thần tiên và êm ả thế ai không muốn sống và vào viện?

Trịnh Thanh Thủy

Nguồn : http://nguoivietboston.com/?p=5789

Thông báo: Khóa tu Tĩnh Tọa Niệm Phật 18/11/2012 – Tịnh Xá Minh Đăng Quang, Dallas, TX

KHÓA TU

TĨNH TỌA NIỆM PHẬT

clip_image002

VỚI ĐĐ THÍCH MINH THÀNH

TẠI TỊNH XÁ MINH ĐĂNG QUANG

400 Forest Gate Dr.

Garland, TX 75042

972-205-1918

Vào ngày Chủ Nhật, 18 tháng 11 năm 2012

CHƯƠNG TRÌNH

09:00AM: Phật Tử Vâng Tập

09:30AM: Thuyết Pháp

10:30AM: Hướng Dẫn Cách Tĩnh Tọa Niệm Phật

11:30AM: Nghỉ Giải Lao và Dùng Cơm Trưa

02:00PM: Phật Pháp Vấn Đáp

03:00PM: Hướng Dẫn Cách Lạy Phật

04:00PM: Kết Thúc Khóa Tu

Kính mời quý Phật tử tham dự đông đủ hầu được sự lợi lạc trên đường tu học

Trân Trọng,

Mọi thắc mắc xin liên lạc về ban tổ chức 214-718-5051 hoặc 972-775-0084

Thông báo: CHƯƠNG TRÌNH HOẰNG PHÁP LẦN 2 TẠI MỸ QUỐC - ĐĐ THÍCH MINH THÀNH

ddminhthanh
TỪ NGÀY 17/08/2012 ĐẾN NGÀY 04/12/2012
--------o0o-------
1. TỪ 17/08/2012 ĐẾN 10/09/2012 TẠI BẮC CALIFORNIA
(ĐỨC NHÃ, 408-904-9024)
-TỊNH XÁ NGỌC HÒA
Ngày: 19/08/2012 (Chủ Nhật)
Giờ: 11 AM đến 12 PM
Giờ: 03 PM đến 04 PM
Tại: 766 S. Second Street, San Jose, CA 95112
Tel : (408) 295-2436
-ĐẠO TRÀNG CHÚNG LIÊN TRÌ
Ngày: 21/08/2012 (Thứ Ba)
Giờ: 10 AM đến 4 PM
Ngày: 22/08/2012 (Thứ Tư)
Giờ: 8 AM đến 4 PM
-CHÙA AN LẠC
Ngày: 24/08/2012 (Thứ Sáu)
Giờ: 7 PM đến 9 PM (giảng pháp)
Tại: 1647 E. San Fernando St, San Jose. CA 95116
Tel: (408) 254-1710
Ngày: 25/08/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 7:30 AM đến 1 PM (tu học/ thọ trai)
Giờ: 7 PM đến 9 PM (giảng pháp)
Ngày: 26/08/2012 (Chủ Nhật)
Giờ: 7:30 AM đến 1 PM (tu học/ thọ trai)
Giờ: 7 PM đến 9 PM (giảng pháp)
Ngày: 27/08/2012 đến 31/08/2012 ((Thứ Hai đến Thứ Sáu)
Giờ: 10 AM đến 1 PM (tu học/ thọ trai)
Giờ: 7 PM đến 9 PM (giảng pháp)
Ngày: 01/09/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 10 AM đến 11 AM (Thuyết giảng lễ Vu Lan)
-NHÀ HÀNG SAIGON KITCHEN (trong khu Grand Century Mall)
Ngày: 04/09/2012 (Thứ Ba)
Giờ: 5:30 giờ chiều – Dùng cơm chay (vào cửa tự do, cơm chay miễn phí)
Giờ: 7:00 giờ tối giảng pháp đến 9:30 tối
Tại: 1111 Story Road, Suite # 1005, San Jose, CA 95122
Tel: (408) 478-1717
-ĐẠO TRÀNG TỊNH ĐỘ
Ngày: 07/09/2012 (Thứ Sáu)
Giờ: 09 AM đến 08 PM
Ngày: 08/09/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 08 AM đến 09 PM
Tại: 7208 Campania Ct, Elk Grove, CA 95757
Tel: (916) 897-1696
-ĐẠO TRÀNG BÁT NHÃ
Ngày: 09/09/2012 (Chủ Nhật)
Giờ: 11 AM đến 12 PM
Tel: (408) 355-5365/(408) 904-9024
2. TỪ 10/09/2012 ĐẾN 13/09/2012 TẠI LAS VEGAS, NEVADA
(NIỆM PHẬT ĐƯỜNG PHỔ QUANG, 702-499-0197)
-NIỆM PHẬT ĐƯỜNG PHỔ QUANG
Ngày: 11/09/2012 (Thứ Ba)
Tại: 7389 Parnell Ave., Las Vegas, NV 89147
Tel: (702) 499-0197
3. TỪ 13/09/2012 ĐẾN 27/09/2012 TẠI NAM CALIFORNIA
(AN HẠNH, 408-326-9758)
-CHÙA BÁT NHÃ Ngày: 15/09/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 8:00 AM đến 11:00 AM
Tại: 803 S Sullivan St. Santa Ana, CA 92704
Tel: (714) 571-0473
- CHÙA QUAN ÂM
Ngày 15/09/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 7:00 PM
Tại: 10510 CHAPMAN AVE.
GARDEN GROVE, CA 92840
Tel: (714) 636-6216
-CHÙA BÁT NHÃ
Ngày: 16/09/2012 (Chủ Nhật)
Giờ: 8:00 AM đến 5:00 PM
Tại: 803 S Sullivan St. Santa Ana, CA 92704
Tel: (714) 571-0473
-CHÙA HUỆ QUANG
Ngày: 21/09/2012 (Thứ Sáu)
Giờ: 6:00 PM đến 9:00 PM
Ngày: 22/09/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 6:00 PM đến 8:00 PM
Ngày: 23/09/2012 (Chủ Nhật)
Giờ: 8:00 AM đến 5:00 PM
Tại: 4918 W. Westminster Ave, Santa Ana, CA 92703
Tel: (714) 530-9249 / (714) 534-2525
4. TỪ 27/09/2012 ĐẾN 04/10/2012 TẠI DETROIT, MICHIGAN
(THẦY TRÍ THƯỜNG, 586-427-6888)
-CHÙA LINH SƠN
Ngày: 30/09/2012 (Chủ Nhật)
Tại: 4820 E 9 Mile Rd., Warren, MI 48091
Tel: (586) 427-6888
5. TỪ 04/10/2012 ĐẾN 16/10/2012 TẠI PENNSYLVANIA VÀ VIRGINIA
(DIỆU SƯƠNG, 215-360-2171)
-CHÙA PHẬT QUANG
Ngày: 06/10/2012 đến 07/10/2012 (Thứ Bảy đến Chủ Nhật)
Tại: 1001 S. 4th Street
Tel: (215) 339-5121
-TƯ GIA MINH TRÍ
Ngày: 13/10/2012 (Thứ Bảy) 
Giờ: 09 AM
Tại: 6 Memory Lane, Enola, PA 17025
Tel: 717-728-3029
-CHÙA GIÁC LÂM
Ngày: 13/10/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 4 PM đến 6:00 PM
Tại: 131 Nyack Ave., Lansdowne, PA19050
Tel: (610) 626-4899
- PHẬT BẢO TỰ
Ngày: 14/10/2012 (Chủ Nhật)
Tại: 4701 Backlick Road, Annandale, VA 22003
Tel: (703) 256-8230
6. TỪ 17/10/2012 ĐẾN 23/10/2012 TẠI NEW JERSEY
(NI CÔ TỊNH NHƯ, 267-825-5265)
-TU VIỆN ĐỨC MẸ HIỀN
Ngày: 20/10/2012 đến 21/10/2012 (Thứ Bảy đến Chủ Nhật)
Tại: 317 Princeton Ave., Stratford, NJ 08084
Tel: (703) 577-9018
-CHÙA LINH SƠN
Ngày: 20/10/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 8:00 PM
Tại: 4164 Marlton Pike, Pennsauken, NJ 08109
Tel: (267) 582-7735
7. TỪ 24/10/2012 ĐẾN 30/10/2012 TẠI NORTH CAROLINA (NGUYÊN HOÀNG, 704-640-3252)
-TƯ GIA NGUYÊN HOÀNG
Ngày: 25/10/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 8:00 chiều
Tel: (704) 640-3252
-THIỀN TỰ TĨNH TÂM
Ngày: 28/10/2012 (Chủ Nhật)
Giờ: 9:00 giờ sáng đến 5:00 giờ chiều
Tại: 1602 Lane St., Kannapolis, NC28083
8. TỪ 30/10/2012 ĐẾN 06/11/2012 TẠI FLORIDA
(DIỆU QUÝ, 561-267-9675)
-CHÙA PHƯỚC HÒA
Ngày: 31/10/2012 (Thứ Tư)
Giờ: 7:00 chiều
Tại: 4300 Ellis Road, Fort Myers, FL 33905
Tel: (239) 440-0564
-CHÙA TỊNH QUANG
Ngày: 01/11/2012 (Thứ Năm)
Giờ: 8:00 chiều
Tại: 7801 Rich Road, Fort Myers, FL 33917
Tel: (952) 215-6655
-THƯ VIỆN TỊNH ĐỘ PHỔ HIỀN
Ngày: 02/11/2012 đến 03/11/2012 (Thứ Sáu đến Thứ Bảy)
Giờ: 9:00 giờ sáng đến 5:00 chiều
Tại: 3851 62ND Ave. N # H, Pinellas Park, FL 33781
Tel: (727) 776-0126 hay (727) 686-4631
Email: tinhdophohien@gmail.com
-CHÙA LỘC UYỂN
Ngày: 04/11/2012 (Chủ Nhật)
Giờ: 9:00 giờ sáng đến 5:00 chiều 
Tại: 212 Swain Blvd, Greenacres, FL 33463
Tel: (561) 968-1793
9. TỪ 06/11/2012 ĐẾN 20/11/2012 TẠI TEXAS
(SƯ CÔ TRÍ NGUYÊN, 281-290-0984)
-NIỆM PHẬT ĐƯỜNG HẢI ĐỨC
Ngày: 10/11/2012 đến 11/11/2012 (Thứ Bảy đến Chủ Nhật)
Tại: 4427 Continential Dr., Houston TX 77072
Tel: (281) 999-1110
-THIỀN TỰ CHÂN NGUYÊN
Ngày: 17/11/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 9:00 sáng đến 4:00 giờ chiều (Khoá tu 1 ngày) 
Tại: 12039 Holderrieth Road, Tomball, TX 77375
Tel: (281) 290-0984
-CHÙA TỊNH LUẬT
Ngày: 17/11/2012 (Thứ Bảy)
Tại: 8703 Fairbanks, N. Houston, TX 77064
Giờ: 6:00 chiều đến 7:30 chiều
Tel: (713) 856-7802
-TỊNH XÁ MINH ĐĂNG QUANG (DALLAS, TX)
Ngày: 18/11/2012 (Chủ Nhật)
Giờ: 9:00 sáng đến 4:00 giờ chiều (Khoá tu Tĩnh Tọa Niệm Phật) 
Tại: 400 Forest Gate, Garland, TX 75042
Tel: (972) 205-1918
10. TỪ 20/11/2012 ĐẾN 28/11/2012 TẠI ARIZONA
(HUỆ NGỌC, 520-850-9531)
-ĐẠO TRÀNG HUỆ NGỌC
Ngày: 24/11/2012 đến 25/11/2012 (Thứ Bảy đến Chủ Nhật)
Tại: 4007 E Broadway Blvd, Tucson, AZ 85711
Tel: (520) 850-9531
11. TỪ 28/11/2012 ĐẾN 04/12/2012 TẠI HAWAII
(TỊNH TÂM, 808-349-1073)
-ĐẠO TRÀNG TỊNH TÂM
Ngày: 30/11/2012 (Thứ Sáu)
Giờ: 6:30 PM đến 9:00 PM
Tại: 1031 Nuuanu Ave. Honolulu Hi. 96817-5603
Tel: (808) 349-1073
-TU VIỆN BỒ ĐỀ
Ngày: Thứ bảy 01/12/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 9:00 AM đến 11:00 AM
Tại: 1121 Mahalo St. Honolulu Hi. 96817
Tel: (808) 284-1247
-ĐẠO TRÀNG TỊNH TÂM
Ngày: 01/12/2012 (Thứ Bảy)
Giờ: 6:30 PM đến 9:00 PM
Tại: 1031 Nuuanu Ave. Honolulu Hi. 96817-5603
Tel: (808) 349-1073
-CHÙA TỪ HẠNH MAUI
Ngày: 02/12/2012 (Chủ Nhật)
Giờ: 6:30 PM đến 9:00 PM
Tại: 385 Puunene Ave. Kahului Hi 96732
Tel: (808) 873-8654/(808) 283-0403
NGÀY 04 THÁNG 12 NĂM 2012 HOÀN MÃN Smile
*Lưu ý: chương trình sẽ được cập nhật nếu có thay đổi. 
www.phapan.vn

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

ALBERT EINSTEIN VÀ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

Rasoul Sorkhabi
HT Thích Trí Chơn dịch

LỜI GIỚI THIỆU - Năm 2005 đánh dấu kỷ niệm năm sinh nhật lần thứ 70 của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Liên Hiệp Quốc cũng tuyên bố  2005 là năm Vật Lý của thế giới và người đã được vinh danh là ông Albert Einstein, nhà đại khoa học phát minh ra Thuyết Tương Đối năm 1905 (cách nay 100 năm) đã từ trần năm 1955 (đúng 50 năm trước). Đây là cơ duyên thuận lợi để chúng ta tìm hiểu tại sao có sự trùng hợp, gặp gỡ giữa hai nhân vật lịch sử vĩ đại này trong thời đại của chúng ta hôm nay, một nhân vật là khoa học gia Tây Phương nổi tiếng và người kia là vị lãnh đạo Phật Giáo mà khắp thế giới đều tôn kính, đã nêu lên một hình ảnh ý nghĩa về sự hợp nhất giữa khoa học và tôn giáo.

GHI CHÚ CỦA NGƯỜI DỊCH - Rasoul Sorkhabi là giáo sư tại Học Viện Nghiên Cứu Năng Lượng và Khoa Địa Chất thuộc Đại Học Utah (Salt Lake City), nơi ông đang sống với người vợ Nhật và cô con gái. Giáo Sư đã thực hiện chương trình nghiên cứu rộng rãi về địa chất ở vùng núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayas). Bài viết gần đây của giáo sư là “Einstein và Tâm Hồn người Ấn Độ: Tagore, Gandhi và Nehru” đăng trên tạp chí “Current Science” do viện Hàn Lâm Khoa Học Ấn Độ (Indian Academy of Science) ấn hành

Nhiều năm qua, nhà khoa học Albert Einstein và Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ảnh hưởng thu hút tôi rất nhiều. Khi đọc tiểu sử và tác phẩm của hai nhân vật này mà tôi nhận thấy có nhiều sự tương đồng ý nghĩa về cá tính và hoạt động của họ đã chiếu sáng trên mối quan hệ giữa lý trí và tinh thần mà cả hai lãnh vực đều cần thiết cho xã hội và đời sống con người.

Phật Giáo lẫn Khoa Học chủ trương người đi tìm đạo lý hay các định lý khoa học cần dựa vào trí tuệ và kinh nghiệm của chính bản thân họ. Nhà tôn giáo lẫn khoa học không thể tin tưởng một cách mù quáng. Mọi lý thuyết trình bày chỉ có giá trị khi được chứng nghiệm bằng sự tu tập của vị tu sĩ và chứng minh cụ thể của nhà khoa học.

Đặc biệt trong các bài viết cũng như thuyết giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà khoa học Einstein, là những ý tưởng đều xuất phát từ tâm thức và kinh nghiệm bản thân của họ. Khi viết bài này thì cuốn sách đầu tiên để trên bàn tôi đang đọc là tác phẩm “Phật Giáo Tây Tạng và Chìa Khoá Dẫn Đến Trung Đạo” (The Buddhism of Tibet and the Key to the Middle Way) do Tenzin Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 viết ấn hành năm 1975. Tôi được tặng cuốn sách này vào năm 1982 khi tôi và vợ tôi là Setsuko từ Nhật Bản lần đầu tiên đến Ấn Độ gặp ngài tại thành phố Dharamsala. Tôi cũng đã được đọc tác phẩm của Einstein: “Đại Cương và Đặc Biệt Thuyết Tương Đối” (Relativity: The Special and the General Theory) ấn hành năm 1952.

Hai cuốn sách đều mang tính cách chuyên môn và cả hai tác phẩm đều chịu ảnh hưởng tư tưởng của những người đi trước, nhưng điều đặc biệt thú vị là bút pháp của họ đều giống nhau - giải thích các chủ đề khó hiểu bằng lối diễn đạt rõ ràng, chính xác với ngôn ngữ bình dị và đã trình bày được ngay chính tư tưởng của hai tác giả. Mặc dù sự liên hệ giữa khoa học và tôn giáo là một đề tài hóc búa, phức tạp và gay go, nhưng cả hai khoa học gia Einstein và Đức Đạt Lai Lạt Ma đều phát biểu rằng, tôn giáo và khoa học có thể hợp tác, chung sống và đóng góp lợi ích cho sự tiến bộ, phát triển của xã hội con người. Tôn giáo và khoa học thuộc hai lãnh vực kiến thức và thực hành khác nhau, tuy nhiên cả hai đều do nỗ lực của con người và cần thiết cho sự thăng hoa cuộc sống nhân sinh. 

Đức Đạt Lai Lạt Ma không phải là nhà tôn giáo theo trào lưu chính thống, duy trì lòng tin cổ truyền vào kinh điển mà ngài cũng đề cao giá trị của nền khoa học hiện đại và tin tưởng rằng tất cả các truyền thống tôn giáo khác nhau đều giúp ích cho nhân loại. Ông Einstein không phải là nhà toán học thiển cận, không nghĩ đến sự phát triển tinh thần và đời sống tâm linh. Trong tác phẩm: “Những năm cuối cùng của đời tôi” (Out of My Later Years), ấn hành năm 1950, tiên sinh viết:

Tất cả các tôn giáo, nghệ thuật và khoa học là những cành nhánh chung của một thân cây. Những khát vọng này đều nhằm hướng đến sự thăng hoa đời sống của kiếp người, giúp con người vượt khỏi thể giới thuần tuý vật chất và hướng dẫn cá nhân đến sự tự do và giải thoát”. 

Trong cùng cuốn sách trên, Einstein cũng xác nhận rằng khoa học thực sự đã giúp cho mục tiêu của tôn giáo, vì khoa học đã dạy cho chúng ta hiểu biết về sự hoà hợp, tương quan và tương duyên của thế giới cũng như kiến thức khoa học về vũ trụ bao la huyền bí này:

Mỗi ngày hằng trăm lần tôi tự nhắc nhở để thấy rằng đời sống nội tâm và ngoại giới của tôi được xây dựng căn bản trên sức lao động của những kẻ khác và tôi phải cố gắng đáp đền trả ơn lại cho họ, những người mà tôi đã và đang nhận sự giúp đỡ”.

Đây là những lời nói của Einstein. Chia xẻ với ý tưởng này, Đức Đạt Lai Lạt Ma phát biểu sự tương quan tương duyên phụ thuộc vào nhau của vạn vật, con người và các biến cố xảy ra trên thế gian là ý niệm căn bản của nền khoa học hiện đại và tư tưởng Phật Giáo.

Trong lời phát biểu khi nhận giải Nobel Hoà Bình, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói:

Chúng ta tùy thuộc vào nhau trong mọi sinh hoạt của đời sống. Chúng ta không thể tồn tại khi sống tách rời khỏi xã hội và không biết gì về các sự việc xảy ra bên ngoài cộng đồng của nhân loại. Khi gặp những khó khăn, chúng ta cần giúp đỡ lẫn nhau cũng như nên chia xẻ nguồn vui của chúng ta cho những kẻ khác”.

Về mặt triết lý, lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma phản ảnh lý “Nhân Duyên Sinh” của Phật Giáo.

Đức Đạt Lai Lạt Ma khuyên dạy chư Tăng không nên có tâm ích kỷ và đắm say của cải vật chất. Ngài đã từng nói: “Tôi chỉ là một nhà sư tầm thường”. Howard Cutler, người cùng chung với ngài viết tác phẩm “Nghệ Thuật Đạt Đến Hạnh Phúc” (The Art of Happiness) bảo rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma không biết cuốn sách đó đã trở thành tác phẩm bán chạy nhất (bestseller) tại vùng Bắc Mỹ.

Ông Einstein cũng có tâm hồn vị tha hay giúp đỡ mọi người. Một trong những tiểu luận nổi tiếng của ông nhan đề “Thế Giới như Tôi Nhìn Thấy Nó” (The World As I See It) ấn hành năm 1931, Einstein đã viết:

Tôi tin rằng một đời sống giản dị không xa hoa cầu kỳ là rất tốt, hữu ích cho mọi người cả hai phương diện thể xác lẫn tinh thần. Ba mục tiêu mà nỗ lực của con người nhắm đến là của cải, tiền bạc và giàu sang, đối với tôi trở thành vô nghĩa”.

Ông đã thực hành những điều ông nói. Chẳng hạn, Einstein đã dùng hết số tiền 30.000 (ba chục nghìn) đô la ông được thưởng trong giải Nobel Vật Lý năm 1921 để giúp đỡ cho bà vợ đầu tiên và mấy đứa con của bà, mặc dù lúc bấy giờ ông đã lập gia đình với người khác.

Einstein đoạt giải Nobel Vật Lý năm 1921, và Đức Đạt Lai Lạt Ma được giải Nobel Hoà Bình năm 1989. Hơn nữa, Einstein cũng là nhân vật tích cực vận động cho nền hoà bình thế giới; yêu cầu hủy diệt các loại võ khí nguyên tử cũng như đòi hỏi quyền làm người, tự do và dân chủ phải được thực hiện tại nhiều quốc gia. Cuộc đời của ông luôn luôn tranh đấu chống bạo động, chiến tranh, chủ nghĩa phát xít và kỳ thị chủng tộc. Vị anh hùng chính trị mà Einstein tôn sùng nhất là Thánh Gandhi của Ấn Độ. Tháng 4 năm 1955, cùng với đại triết gia người Anh, Bertrand Russell, cả hai ông đã phổ biến một bản tuyên ngôn chung, kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới nên giải quyết các cuộc khủng hoảng chính trị bằng phương pháp hoà bình.

Gần đây trong một cuộc phỏng vấn, tôi có nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời cho biết rằng nếu có thể, Ngài phát nguyện vào ở một ngôi chùa và sẽ dành hết thì giờ cho việc tu thiền. Điều này khiến tôi nhớ lại lời ông Einstein bảo rằng:

Công việc của người trông coi ngọn hải đăng thực lý tưởng cho nhà khoa học, vì họ có nhiều thì giờ rãnh để suy nghĩ và làm việc”.

Nơi khác, tiên sinh Einstein ghi nhận rằng cuộc đời của ông được phân chia thành giữa “các phương trình và chính trị” nhưng “các phương trình thì sẽ vĩnh viễn tồn tại lâu dài”.

Cả hai ông Einstein và Đức Đạt Lai Lạt Ma đều mất tổ quốc. Năm 1933 Einstein trốn thoát chế độ Phát Xít Đức Quốc Xã sang định cư tại Hoa Kỳ. Năm 1959, Trung Cộng đánh chiếm xâm lăng Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma bỏ nước trốn qua tị nạn ở Ấn Độ. Tôi nghĩ kinh nghiệm cuộc sống bản thân của mỗi người này đã giúp cho cả hai nhân vật (Einstein trong cộng đồng người Do Thái và Đức Đạt Lai Lạt Ma trong xã hội các Phật tử Tây Tạng), khi ở xứ người, nhận thấy rõ giá trị của sự đóng góp về khoa học, tôn giáo cũng như lịch sử dân tộc của họ vào các nền văn hoá đa dạng của nhân loại trên thế giới.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thường bảo rằng cuộc sống tị nạn lưu vong đã giúp Ngài có cơ hội tốt để gặp gỡ, tiếp xúc với mọi người đủ thành phần tại nhiều quốc gia và nhờ đó mà Ngài đã nhận thức được rằng:

Tất cả chúng ta ai cũng muốn sống có hạnh phúc chứ không thích khổ đau”.

Einstein sinh năm 1879 trong một gia đình Do Thái tại Đức Quốc. Đức Đạt Lai Lạt Ma ra đời năm 1935 trong một gia đình nông dân tại quận Amdo ở Tây Tạng. Tiểu sử của hai nhân vật hoàn toàn khác nhau, nhưng tại sao chúng ta nhận thấy có nhiều điểm tương đồng về cá tính và hành động giữa hai con người đặc biệt này? Câu trả lời của tôi là vì cả ông Einstein và Đức Đạt Lai Lạt Ma đều đã sống vượt lên trên những thành kiến, cố chấp về tôn giáo cũng như các chủ nghĩa phát xít, quốc gia và duy vật v.v.

Trái lại cả hai đã sống, hành động vì nền hoà bình thế giới, tình yêu thương nhân loại, và phục vụ cứu giúp tất cả mọi người với tấm lòng vị tha. Trong bài nói chuyện với các sinh viên trường Cal Tech năm 1931, Einstein đã phát biểu:

Tôn giáo và khoa học có thể cùng chung đóng góp cho lợi ích của con người”.

Các giải Nobel đã trao tặng cho khoa học gia Einstein và Đức Đạt Lai Lạt Ma là biểu tượng cho hai đỉnh cao của tình nhân loại và trí tuệ con người mà hai đại nhân vật lịch sử này đã thành tựu đạt tới qua những phương cách hành động khác nhau. Và từ đỉnh cao đó, ánh sáng rực rỡ của tình thương và sự hiểu biết tuyệt vời của con người đã chiếu toả xuống khắp vạn vật ở trần gian.

Trích tạp chí Phật Giáo “Mandala” số tháng 6 & 7 năm 2005.

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

Đạm chay chiên và gỏi xoài

Cá chay chiên   gỏi xoài

- Cá chay mua ở cửa hàng bán đồ chay đông lạnh về chiên giòn.

- Xoài xanh bằm hoặc cắt sợi trộn mắm chay nguyên chất, đường, ớt và tỏi (nếu không cữ).

Vừa nhanh gọn lại có một món ăn rất ngon và cực kỳ bắt cơm.

Chúc các bạn ngon miệng.

Tuệ Lan