Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Tâm bình an – Một ốc đảo riêng ta

oc_dao_tu_than1_810603710Ni sư Ayya Khema – với những trải nghiệm sâu sắc của bản thân trên con đường gian nan tìm đến với Phật pháp vô biên, đem đến cho người đọc những câu chuyện quý báu, như làn nước mát đem lại những giây phút tịnh tâm, thư thái và thanh thản cho tâm hồn.

Hạnh phúc cũng có nghĩa là bình an, thanh tịnh, nhưng thường ít ai nghĩ đến điều đó. Trái lại là trạng thái bình an, thanh tịnh lại bị coi là “nhàm chán”, “không có gì xảy ra”, là sự vắng mặt của phát triển, sinh động. Mà đâu phải bình an, thanh tịnh có mặt ở khắp mọi nơi.

Trạng thái đó rất khó có được nhưng cũng không mấy ai bỏ công kiếm tìm. Vì có lẽ, sự bình an thanh tịnh tựa như thiếu sức sống, như phủ nhận cái Ngã tối thượng của con người. Chỉ có các hành giả tha thiết với đời sống tâm linh mới quan tâm, mới tìm kiếm sự bình an, thanh tịnh.

Bản năng tự nhiên của con người là tìm cách tôn vinh mình, trái ngược với một cực đoan khác là lòng tự ti. Những kẻ giàu lòng tự cao, thì khó có thể tìm được sự bình an. Lúc nào họ cũng phải tranh hơn thua với mọi người xung quanh: “Ai làm được điều gì, thì tôi cũng làm được tốt hơn như thế”.

Nhưng khi thấy thực tế không phải là thế thì đổi lại là “Bất cứ chuyện gì bạn làm, tôi cũng không thể làm tốt bằng”. Trong cuộc đời, có ai không có lúc phải thừa nhận rằng có những việc mình phải thua kém người khác, dầu đó là quét đường hay viết sách.

Mặc cảm tự tôn hay tự ti đều không mang lại sự bình an. Sự phô trương tài năng hay mặc cảm thiếu sót, kém cỏi tài năng đều khiến lòng ta không yên. Lúc nào ta cũng cảm thấy phải tìm kiếm, chờ đợi một kết quả nào đó, qua sự tán thưởng, khen ngợi hay chê bai của người. Khi bị chê bai, trong ta dường như có cả một cuộc chiến tranh, nhưng với lời khen ngợi thì ta lại như một kẻ thắng trận.

Trong chiến tranh, không bao giờ có người chiến thắng, chỉ có những kẻ thất bại. Không cần biết ai là người phải ký bản hòa ước trước, cả hai phe đều thua trận. Cũng thế, nếu bạn cảm thấy mình là người chiến thắng, kẻ mạnh hơn, hiểu biết hơn, thông minh hơn, bạn cũng không thể tìm được sự bình an, vì chiến tranh và hòa bình không đi đôi với nhau.

Cuối cùng người ta tự hỏi rằng: Có ai thực sự muốn tìm sự bình an? Có ai thực sự tìm được nó không? Ta cần phải quay vào bên trong, soi rõ tâm mới có thể tìm được câu trả lời. Hành động tự vấn này không phải dễ làm.

Đối với nhiều người, dường như có một cánh cổng sắt nặng nề đóng kín cửa ngõ tâm. Họ không bao giờ biết được điều gì đang xảy ra bên trong họ. Nhưng tất cả chúng ta đều phải cố gắng tự vấn để xem thật sự mình muốn gì.

Trong những cơn hoạn nạn, khi chúng ta không thiết gì về mặc cảm tự tôn hay tự ti, những lúc đó chúng ta thực sự chỉ cầu mong được bình an. Khi lòng xao động hay mặc cảm tự tôn, tự ti đã biến mất, thì điều gì sẽ xảy ra? Có phải lúc đó thực sự chúng ta chỉ mong được bình an? Hay chúng ta mong được trở thành một nhân vật đặc biệt, một người quan trọng, đáng kính?

Là một “nhân vật” thì sẽ chẳng bao giờ có bình an. Có một giai thoại thú vị về cây xoài như sau. Một vị vua khi cưỡi ngựa qua rừng. Ngài đã trông thấy một cây xoài trĩu quả. Ngài ra lệnh cho quân hầu: “Tối nay hãy trở lại đây hái tất cả xoài đó cho ta.”

Quân lính ra đi và trở về tay không. Họ thưa: “Tâu Bệ hạ, tất cả mọi quả xoài trên cây đều đã bị hái, chẳng còn gì trên cây cả”. Nhà vua cho rằng quân hầu lười biếng không muốn trở lại khu rừng kia, nên Ngài thân hành cưỡi ngựa trở lại đó, và nhà vua đã thấy thay vì một cây xoài tươi đẹp trĩu quả, giờ chỉ là một thân cây xác xơ tội nghiệp. Người ta đã bẻ cả các cành cây để hái quả.

Khi nhà vua dong ngựa đi xa hơn tí nữa, ngài đã gặp một cây xoài khác xanh tươi đẹp đẽ với lá cành xum xuê nhưng không có quả trái gì trên cành. Chẳng có ai đến gần cây xòai này. Vì không có trái nên cây xoài được yên thân. Trở về cung điện, nhà vua trao áo mũ, ngai vàng lại cho các quan thần và nói: “Các ngươi hãy giữ gìn quốc gia này, còn ta, ta sẽ vào sống ẩn dật trong rừng kia.”

Khi ta không là ai cả và không có gì cả, ta sẽ không sợ bị tấn công, mất mát, ta sẽ có được sự bình an. Cây xoài trĩu quả không có được một phút yên ổn vì ai cũng muốn hái được quả của nó. Vì thế, nếu thật sự muốn được bình an, hãy không là ai cả.

Không phải là người quan trọng, cũng không thông minh, đẹp đẽ, nổi tiếng hay giữ chức quyền gì cả. Mà hãy là người khiêm tốn, ít phô trương, không có nhiều cá tính càng tốt. Hãy nhớ cây xoài không trái đã được đứng bình yên, được giữ lại những cành lá xanh tươi của mình để tỏa bóng mát cho người.

Không là ai cả, không có nghĩa là không làm gì cả. Chúng ta vẫn hành động nhưng không phô trương tự ngã, không mong muốn lợi lộc. Cây xoài cho bóng mát, chỉ lặng lẽ tỏa bóng mát, đâu có cần ai biết đến. Đó là một đức tính rất cần thiết cho tâm tĩnh lặng.

Phần đông chúng ta hoặc ở cực đoan này hoặc ở cực đoan khác, hoặc không làm gì cả, với ý nghĩ rằng: “Không có tôi, xem họ xoay xở thế nào”, hoặc phải nắm quyền lãnh đạo, phát biểu ý kiến này nọ nên khó có được tâm tĩnh lặng.

Là một ai đó, có vẻ quan trọng, điều này đã ăn sâu trong suy nghĩ của ta hơn là có được sự bình an. Vì thế, ta cần phải quát sát tâm cẩn thận để biết thật sự ta tìm kiếm điều gì. Ta mong mỏi điều gì trong cuộc sống?

Nếu chúng ta muốn làm người quan trọng, muốn được kính trọng, mến yêu, thì cũng phải biết chấp nhận cái giá phải trả. Mọi việc đều có mặt tích cực và tiêu cực của nó, giống như mặt trời có bóng. Nếu muốn được cái này thì phải chấp nhận cái kia, đừng than thở.

Nếu chúng ta thực sự muốn tâm được bình an, muốn có nội lực vững chãi thì chúng ta phải từ bỏ ý muốn trở thành một người khác. Như thế ta không phải đánh mất nhân tâm, cái ta mất là lòng ham muốn chứng tỏ sự quan trọng, sự cao siêu của con người đặc biệt mà ta gọi là “cái Tôi”.

Tất cả mọi người đều tự coi mình là quan trọng. Nhưng trên trái đất này, có hàng tỉ con người khác, vậy thì có ai là người nghĩ đến chúng ta? Hãy thử đếm xem. Sáu hay tám, hay mười hai, mười lăm trong những con số tỉ này. Có lẽ chúng ta đã phóng đại quá tầm quan trọng của cá nhân mình. Hiểu được như thế, sẽ giúp ta thấy cuộc đời dễ sống hơn.

Muốn được là ai đó rất nguy hiểm. Giống như chơi với lửa, sẽ không tránh khỏi bị phỏng tay. Người khác không phải lúc nào cũng ủng hộ ta. Có người đã thành công trong việc trở thành một ai đó, ví dụ những nguyên thủ quốc gia, nhưng họ đã phải nhờ đến các chiến sỹ bảo vệ vì mạng sống của họ luôn bị đe dọa.

Giữa bao nhiêu thứ trên đời – tha nhân, cầm thú, vật dụng thiên nhiên hay nhân tạo – chỉ có một thứ ta làm chủ được, đó là tâm của ta. Nếu bạn thật sự muốn trở thành ai đó, hãy trở thành con người hiếm có – người có thể làm chủ được tâm mình. Trở thành một con người như thế, không chỉ là đặc biệt mà còn mang đến cho ta nhiều lợi lộc nhất. Một người như thế sẽ không thể rơi vào bẫy của tội lỗi, cấu uế.

Có câu chuyện về ngài Aachan Chah, một vị thiền sư nổi tiếng ở miền đông bắc Thái Lan. Có lần ngài bị phê bình là chứa chất nhất sân hận. Ngài Aachan Chah đã trả lời: “Cũng có thể đúng, nhưng tôi ít sử dụng chúng lắm.”

Một câu trả lời như thế phải xuất phát từ một con người hiểu rất rõ về cá tính của mình. Đó là một người không để cho lời nói, ý nghĩ, hành động của mình trở nên bất thiện. Một người như thế mới đúng là một nhân vật, một ai đó.

Ngài không cần phải chứng tỏ, hay thanh minh với ai, nếu không muốn nói là ngài không cần phải chứng minh điều gì vì điều đó đã quá rõ ràng. Ngài chỉ có một ước muốn không di dịch – đó là tâm bình an.

Khi chúng ta đặt sự bình an của tâm lên hàng đầu, làm điều tâm huyết, thì tất cả mọi ý nghĩ, lời nói hay hành động, đều hướng về đó. Tất cả những gì không đem lại sự bình an cho tâm đều bị hủy bỏ.

Tuy nhiên, ta đừng lầm lẫn điều này với việc lúc nào cũng phải là người đúng, là lẽ phải. Có thể người khác sẽ không đồng ý với ta. Nhưng tâm bình an là của riêng ta. Ta sẽ đạt được điều đó nếu ta cố gắng tu tập.

(Trích sách c đo t thân – Phương pháp luyn tâm thanh tnh, Tác giả: Ni sư Ayya Khema, Dịch giả: Diệu Liên, Lý Thu Linh, Phát hành: Thái Hà Books & NXB Phương Đông)

ayya-khemaokNi sư Ayya Khema thọ giới xuất gia ở Sri Lanka vào năm 1979, bà là người tiên phong cho rất nhiều hoạt động cộng đồng như tranh đấu cho nữ giới cho tăng đoàn…vv…

Ni sư là tác giả của 25 đầu sách về Thiền và Giáo lý của Đức Phật. Thời gian này, bạn đọc Việt Nam cũng có cơ hội thưởng thức 3 tác phẩm đã rất thành công của ni sư:

Vô ngã vô ưu – Thiền quán về Phật đạo: Giới thiệu với người đọc những tinh túy nhất trên con đường Phật pháp. Bà nhấn mạnh đến cách thức và tại sao lại cần hành thiền cũng như cung cấp cho ta một nền tảng hiểu biết cơ bản về bản chất của Nghiệp, Tái sinh và Bát chánh đạo - những giáo lý căn bản của Đạo Phật.

Với những lời khuyên hữu ích và thiết thực, Ni sư Ayya Khema đã dẫn dắt cho chúng ta những cách thức thực hành tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả và cách vượt qua những chướng ngại trên con đường tu tập.

Khi nào chim st bay: ghi lại toàn bộ khóa tu thiền do một trong những Đạo sư phương Tây được yêu thích nhất hướng dẫn - Ni sư Ayya Khema. Ni sư đã chỉ cho chúng ta thấy con đường trung đạo – con đường của sự giản dị.

Cuốn sách giúp ta kiếm tìm sự thoải mái nhàn hạ cho thân, giống như “những đứa trẻ chơi đùa trong ngôi nhà đang cháy, không chịu bỏ lại đồ chơi chạy ra ngoài”.

chim_sat_bay1vo_nga_vo_uu1

c đo t thân – Phương pháp luyn tâm thanh tnh: Ni sư lại hướng dẫn chúng ta những phương pháp kỹ thuật để tự cân bằng nội tâm của mình, tìm lại sự an bình trong chính trái tim nhỏ bé của mỗi chúng ta.

http://www.daophatngaynay.com/vn/tai-lieu/diem-sach/3841-Tam-binh-an-Mot-oc-dao-rieng-ta.html

Phương trị bệnh thần kinh tọa

than_kinh_toa_868325228

Chứng đau Thần kinh tọa phổ biến nhiều ở lứa tuổi 30-60. Nguyên nhân gây đau dây thần kinh tọa cũng có rất nhiều nhưng hay gặp là do thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống nguyên phát hay thứ phát do hậu quả của hư đĩa đệm, gây chèn ép rễ thần kinh liên quan, hẹp lỗ gian đốt sống, viêm ngoài màng cứng và những nguyên nhân khác.

Tọa  có nghĩa là ngồi. Đau chứng Thần kinh tọa ở đây là bỡi liên quan đường vận hành ở chân và eo lưng của đường kinh Bàng quang, Đởm và Vị, do nhiều nguyên nhân cơ năng hoặc thực thể ở bản thân dây thần kinh hoặc rễ thần kinh, cơn đau kéo dài từ thắc lưng qua mông dẫn xuống tận bàn cân, ngón chân.

Ngoài những đường kinh nói trên tôi còn quan tâm nhiều đến Đốc mạch, mà cột sống lưng có liên quan mật thiết đến Đốc mạch.

Chứng đau Thần kinh tọa phổ biến nhiều ở lứa tuổi 30-60. Nguyên nhân gây đau dây thần kinh tọa cũng có rất nhiều nhưng hay gặp là do thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống nguyên phát hay thứ phát do hậu quả của hư đĩa đệm, gây chèn ép rễ thần kinh liên quan, hẹp lỗ gian đốt sống, viêm ngoài màng cứng và những nguyên nhân khác.

Người thường măc phải bệnh này phần đông là nhân viên văn phòng, công nhân  bốc vác, người làm việc ở môi trường ẩm thấp…

Đầu tháng 01 năm 2008 tôi có tiếp một bệnh nhân tên trần Minh Năm 56 tuổi, cư ngụ tại huyện E’Hleo thuộc Tỉnh Đắc Lắc làm nghề xây dựng.

QUA TỨ CHẨN :

1.VỌNG : Nhìn  2 người con trai kẹp nách 2 bên giúp ông lê từng bước khó nhọc vào đến phòng khám của tôi, ngồi an vị trên ghế mà ông cứ nhăn mặt khóc ròng trông thật thảm hại khiến cho ai thấy cũng cảm nhận được cái đau đang hành hạ trên cơ thể ông.

Vẻ tiều tụy, ánh mắt thất thần qua nhiều đêm không ngủ.

2.VĂN: Nghe từng câu đứt quãng không rõ ràng, hơi thở mệt nhọc nên tôi yêu người nhà khai hộ.

3.VẤN : Theo lời khai của người nhà, bệnh nhân này phát sinh ra chứng đau nhức vùng cột sống thắc lưng lan tỏa qua 2 mông, chạy xuống khớp gối và dọc xuống tận mắt cá chân. Bệnh âm ỉ cũng đã lâu năm, nhưng do cuộc sống lao động nên không  có thời gian chạy chữa.

Đến khi phát bệnh đau dữ dội mới đi khám ở các tuyến dưới. Sau một thời gian nằm viện, được chích thuốc lúc bớt lúc không, đến lúc đau chịu hết nổi nên xin chuyển lên Bệnh viện Chợ Rẫy Sài gòn, sau khi chụp Phim được Bác Sĩ chẩn đoán là thoái hóa cột sống lưng từ L1 đến S1.

Do bệnh không gì nguy hiển nên Bệnh viện bán thuốc rồi cho về, nhưng đau quá không ăn không ngủ được, giờ chuyển qua xin chữa Đông Y.

4. THIẾT : Huyết áp 11/7; mạch Tả Quan, Xích ( mạch Can, mạch Thận bên trái )Trầm hoạt.

Sau khi dùng 4 pháp chẩn như trên, xác định được nguyên nhân sinh ra bệnh, tôi mời ông nằm yên trên giường, đang trong cơn đau hoành hành của bệnh nhân tôi phải dùng những mũi kim châm cứu xuyên thấu qua từng huyệt đạo: Bá hội, Đại chùy, Đại trữ, Phong môn, Mệnh môn, Thận du, Hoàn khiêu, Thừa phò, Ủy trung, Dương lăng tuyền, Túc Tam lỳ, Tam am giao, Huyền chung, côn lôn…( luôn thay đổi huyệt trên chứ không châm hết một lần ) dùng nhịp rung của điện cực vừa tả vừa bổ cộng với ánh đèn hồng ngoại hơi ấm chiếu vào khiến cho bệnh nhân trong hơi thở êm ái ngủ ngon lành sau hơn tháng trời mất ngủ vì cơn đau hành hạ.

Cứ như thế mỗi ngày người nhà đưa ông đến để tôi châm cứu và dùng phương “Độc hoạt Tang ký sinh gia giảm” uông liên tục mỗi ngày. Hơn nửa tháng  điều trị, đến nay ông đã giảm đau đến 80%.

Ngày thứ Bảy vừa qua (19/01/2008), ông đã vui vẻ cho tôi biết, ông đã thử lên xe đạp chạy vòng vòng, thấy mình đã bớt đau nhiều nên chủ nhật hôm sau (20/01/2008) ông xin ngưng châm cứu và bổ thêm mươi thang thuốc về lại huyện nhà E’Hleo thuộc tỉnh Cao nguyên Dakak.

Làm cách nào mà tôi điều trị một bệnh nhân đang trong cơn đau mà giảm nhanh chóng như vậy ?

Xin thưa quý vị. Ở đây tôi không hề dùng  đến các loại thuốc Tây có tính chất gỉam đau của Tây Y.

Tôi xếp bệnh này thuộc hội chứng thoái hóa xương khớp, thể hiện cơn đau qua chứng Thần Kinh Tọa thuộc loại bệnh Phong Thấp Hàn.

Một Lương Y đồng nghiệp của tôi có đã viết như thế này:

Bệnh đau xương khớp vì sao ?

Thận hư, xương yếu, phong thấp vào mà sinh ra.

Như vậy, bệnh đau do xương khớp bị thoái hóa, hoặc vôi hóa là do gốc ở Can Thận bất túc đến mức quá hư suy, phong hàn thấp từ ngoài thừa thế xâm nhập vào mà sinh ra.

Bỡi  chức năng Thận là nuôi cốt tủy, chức năng Gan là nuôi dưỡng gân cơ.

Thận sinh ta Tinh, tinh hoa của thận chuyển qua ống xương thành tủy, tủy nuôi xương khớp, khiến cho xương khớp được cứng cáp.

Như vậy, Thận coi như là mẹ của xương khớp. Nếu mẹ ( là Thận ) thiếu bồi dưỡng ( trường hợp Phụ nữ huyết trắng, Nam di tinh  lâu ngày ) hoặc nam nữ trác tráng ( thất thoát nhiều khiến cho tinh khô huyết kém). Thận tinh suy kiệt  khiến cho xương khớp thoái hóa.

Tỳ vị ( chức năng tiêu hóa ), Tỳ hấp thu dinh dưỡng ( trong thức ăn) hợp với Can sinh ra huyết ( hệ thống Can Tỳ vị ). Can cung cấp dinh dưỡng nuôi các gân cơ. Nhưng Can huyết kém ( do thiếu dinh dưỡng ) không đủ cung cấp nuôi dưỡng gân cơ, gân cơ co duỗi khó khăn, đau mỏi.

Can Thận suy, tà khí ( hàn thấp, hoặc nhiệt thấp ) thừa thế xâm nhập vào sinh ra chứng Phong Thấp đau nhức.

Trong Đông y có câu “Cấp trị Tiêu, hoãn trị Bản”, nghĩa là bệnh đau gấp quá thì trị “Ngọn” ( làm giảm đau ), bệnh đau không gấp thì từ từ mà trị “Gốc” bệnh.

Vậy, bệnh nhân này là hàn thấp nên gây ra đau đớn các thần kinh cơ khớp là cái ngọn. Cái gốc là do Can Thận suy.

Can Tỳ Thận là gốc rễ tạo nên TINH-HUYẾT-KHÍ-THẦN-TÂN DỊCH.

Đối với bệnh nhân Trần Minh Năm này, vì muốn nhanh chóng bớt bệnh cho nên tôi vừa trị Tiêu, vừa trị Bản, nghĩa là vừa Tả ( loại trừ ) Phong hàn thấp vừa mạnh tay Bổ Can Tỳ Thận, bổ Can Tỳ Thận tức là bổ Chánh khí. Bỡi Tổ Lãn Ông có dạy : “ Chánh khí đắc lực tà vô dụng địa

Tà ở đây ám chỉ cho khí độc bên ngoài xâm nhập gây ra bệnh.

Chánh ở đây là chỉ cho Khí lực của Tỳ khí, Can khí, Thận khí ( bao gồm TINH-HUYẾT-KHÍ-THẦN-TÂN DỊCH : Tinh là tinh nam nữ, Huyết là máu, Khí là sức vận hóa, sức đề kháng, Thần: là sự nhận thức phân biệt, Tân Dịch là lượng nước trong cơ thể).

Chánh khí đầy đủ thì trong thân ta bệnh tật không có chỗ dung chứa.

Y tổ Lãn Ông lại dạy : “Lương y như Lương tướng” Làm nghề Lương Y phải như một tướng tài biết điều binh, khiển trận.

Ngài Lãn Ông lại nói: “Y giả, ý dã, dụng dược như dụng binh” nghĩa là lương y sử dụng thuốc phải theo cái ý của mình, như dũng tướng biết điều binh nơi trận mạc vậy !

Đối với người bệnh trần Minh Năm này sinh sống ở vùng Cao nguyên xứ lạnh, thừa lúc suy yếu hàn thấp đã xâm nhập vào các kinh mạch gây nên đau nhức dữ dội. Để ôn bổ ( bổ ấm ) Can, Tỳ, Thận qua các Kinh mạch, tôi phải dùng các vị thuốc thuộc nhóm Dương dược để trừ chứng Hàn Thấp như: Đỗ trọng, Tục đọan, Cốt toái bổ, Cẩu Tích, Phụ tử, Quế chi (để tẩu tán 12 kinh mạch), thân cây lá lốp (Tất bát), ngưu tất để dẫn thuốc thấm sâu vào tận xươn tủy và đi xuống dưới tận dưới bàn chân vì thế mấ ngày sau bệnh nhân Trần Minh Năm hỏi tôi: “ Sao uống thuốc vào thấy nó chạy rầng rầng, mà chạy đến đâu nóng đến đó thêm đau nhức dữ quá.

Tôi trả lời: “ Anh yên chí và chịu đau chút đi, vì đó là theo ý của tôi đó. Bỡi lâu nay anh bị thấm lạnh nên kinh mạch, khí huyệt bị  ngưng trệ, nay cho thuốc vào để  khai thông , nên thuốc chạy đến đâu nó phá ứ đến đó nên phài đau chút vậy đó, vài hôm sẽ hết thôi.”

Vài hôm sau ông lại hải: “ Thầy ơi , hôm nay thì hết đau nhức, nhưng giờ thuốc chạy đến đâu thì nổi mề đai ngứa đến đó.?”

Nghe qua tôi sực nhớ lời ngài Hải thượng Lãn Ông có dạy: “ Đánh giặc thì phải mở cữa thành”.

Thế là tôi gia thêm các vị như : Đại hoàng ( hoặc lá muồng trâu ), Trạch tả ( hoặc rễ tranh ), lúc bấy giờ đường đại tiểu tiện ông thông thoáng, bài tiết hết các chất độc trong cơ thể ra ngoài ông hết phong độc , hết ngứa, ăn ngủ được yên.

Y Tổ Lãn Ông còn dạy: “ Trị phong tiên trị huyế, huyết hành phong tự diệt

Như vậy chưa đầy một tháng mà bệnh nhân Trần Minh Năm đã bớt bệnh nhanh chóng và trở về Daklak  sum họp với gia đình thân quyến, với bạn bè và đã hưởng một mùa xuân Nhâm Tý( 2008) tràn đầy vui tươi và hạnh phúc.

Đó là niềm vui và một trong những thành quả đã đạt được trong nghề chữa bệnh của tôi xin được chia sẻ đến với mọi người, nói thế nhưng trình độ vẫn còn hạn hẹp, nếu các bậc cao minh có thấy những điều sai sót, lương y Phan văn Sang tôi xin được học hỏi thêm.

Thần kinh tọa lâu ngày, teo cơ đùi, do đau vùng cột sống, thắc lưng qua 2 bên mông ( hoặc 1 bên ) chạy dọc xuống chân đến mắc cá, Thần Kinh Tọa lâu ngày muốn liệt cả 2 chân, đau không chịu nổi.

Phương thuốc:

Thục địa 12 gam

Xuyên khung 10 gam

Đương quy 12gam

Tục đoạn 16 gam

Tang Ký sinh 16gam

Ngưu tất 16 gam

Đãng sâm 16 gam

Huỳnh kỳ 12 gam

Cam thảo 4gam

Bạch Truật 12 gam

Bắc Chánh Hoài 12 gam

Tỳ giải 12 gam

Hà Thủ ô 16gam

Bắc đỗ trọng 16gam

Hồ Đào nhân 9gam

Cẩu tích 12gam

Cốt toái bổ 12gam

Phòng phong 10gam

Độc hoạt 12gam

Khương hoạt 12gam

Nhủ hương 8gam

Mộc dược 8g

Xích thược 8gam

Đơn bì 8gam.

Tế tân 8gam

Xưa nay chữa cho người bệnh Thần Kinh Tọa tôi chỉ dùng bài này, nhưng phải linh hoạt gia giảm cho hợp cơ địa người bệnh mới mong chóng khỏi.

Nhưng cũng tùy cơ địa mỗi người mà gia ( thêm vị thuốc vào), giảm ( bỏ bớt những vị thuốc ra vì không hợp hàn hay nhiệt của người bệnh )

Ví dụ người bệnh có kèm huyết áp cao , gia Rễ nhàu, tăng vị Đỗ Trọng, Ngưu tất vào v.v..

Người ốm yếu mệt mỏi gia Tăng vị Đãng sâm, gia Huỳnh kỳ…..

Lần lượt tôi sẽ chia sẻ những phương kinh nghiệm cho tất cả mọi người. Mong sao ai ai cũng chóng khỏi bệnh, đem lại sức khỏe và niềm vui cho mọi nhà.

Nếu quý vị không thể tự gia giảm, xin liên hệ tôi với số ĐT 0902323549 ,

hoặc Email : luong_y_sang@yahoo.com

Địa chỉ số 7 Nguyễn văn Nghi , Phường 7 Quận Gò Vấp ( gần chợ Gò Vấp)

Phật tử lương y PHAN VĂN SANG

http://www.daophatngaynay.com/vn/tai-lieu/11283-Phuong-tri-benh-than-kinh-toa.html

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

Xôi nấm tươi – Tuệ Lan

IMG_4518

Món này rất ngon mà lại dễ làm. Gọi là xôi nhưng thực ra lần này Tuệ Lan nấu cơm nếp. Nấu cơm nếp cũng có cái hay là cơm mềm, trẻ con và người già dễ ăn, hơn nữa không cần phải canh ngâm gạo trước. Đến giờ nấu thì vo gạo giống như gạo tẻ rồi nấu mà thôi. Có điều nấu cơm nếp thì kỹ hơn cơm tẻ phải canh nước cho khéo, nếu không sẽ bị nhão. Mẹo của TL là nước trên mặt gạo 1 tý tẹo thôi, lúc nước cạn, nhắm cơm hơi khô thì cho thêm chút nước sôi, thiếu dễ chữa hơn thừa. TL dùng 3 cup gạo nếp (loại cup đong gạo đi kèm nồi cơm điện) để nấu cho 4 phần ăn, nêm 1/2 muỗng cà phê muối cho đậm đà. Lấy 200 gr nấm tươi tùy thích ngâm muối, rửa sạch cắt miếng vừa ăn. TL dùng nấm Japanese Oyster và nấm Emperor Shiitake, hai loại nấm này nhiều "thịt", ngọt, dai và thơm nên nấu xong ăn ngon lắm. Nếu không kiêng ngũ vị tân dùng hành khô hoặc boaro bằm nhỏ phi với dầu cho thơm, bỏ nấm vào xào. Nêm chút xíu bột nêm và tiêu. Xôi chín trộn nấm đã xào chung với xôi. Dùng nóng rất ngon. Nếu nhà có sẵn chà bông chân nấm ăn chung càng ngon. TL nêm nếm xôi và nấm vừa ăn nên không cần dùng nước chấm. Ông xã TL thích ăn cay nên ăn chung với tương ớt cũng rất ngon. Các bạn làm thử đổi món nhé.

Chúc các bạn ngon miệng.

Tuệ Lan

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

Sự Thật Về Vô Thường

Piyadassi Thera
Thích Thiện Chánh dịch

Sự thật về Vô thường có nghĩa là thực tại không bao giờ tĩnh mà luôn luôn động; và điều đó đã được các nhà khoa học nhận thức là bản tính tự nhiên của thế giới, không ngoại lệ. Trong giáo pháp về thực tại động ấy, Đức Phật cung cấp cho chúng ta một chiếc chìa khóa chủ để mở bất kỳ cánh cửa nào mà chúng ta muốn.

Vô thường, phụ thuộc vào sự biến đổi, là tính chất của các pháp hữu vi. Hãy tinh tấn”. Đó chính là lời nhắc nhở cuối cùng của Đức Phật Cồ-đàm đối với hàng đệ tử của Ngài.

Và khi Đức Phật  đã nhập  Niết-bàn, Trời Đế Thích than rằng:

“Các hành là vô thường, Có sanh phải có diệt. Ðã sanh, chúng phải diệt, Nhiếp chúng là an lạc” (Kinh Ðại bát Niết-bàn, Kinh Trường Bộ số 16).

Đến tận ngày nay, tại mỗi đám tang của người Phật tử ở những xứ theo Phật giáo Nguyên thủy, chính bài kệ nói trên vẫn được tụng đọc bằng tiếng Pali bởi những vị sư chủ trì tang lễ, để nhắc nhở cộng đoàn về bản chất phù du của cuộc đời. Trong những xứ Phật giáo, người ta thường thấy các Phật tử cúng hoa và đèn dầu trước tượng Đức Phật. Chẳng phải  là họ đang cầu nguyện đến Đức Phật hay bất kỳ một“đấng chí tôn” nào. Hoa sẽ tàn và ngọn đèn sẽ lụi, nhắc cho họ về sự vô thường của mọi sự mọi vật vốn do duyên sinh.

Từ Vô thường đơn sơ và giản dị này chính là cốt lõi của giáo lý của Đức Phật, đồng thời cũng là nền tảng cho hai đặc tính khác của sự hiện hữu, đó là Khổ Vô ngã.

Sự thật  về Vô thường  có nghĩa  là thực  tại không bao giờ tĩnh mà luôn luôn động; và điều đó đã được các nhà khoa học nhận thức là bản tính tự nhiên của thế giới, không ngoại lệ. Trong giáo pháp  về thực tại động  ấy, Đức Phật cung cấp cho chúng  ta một chiếc chìa khóa chủ để mở bất kỳ cánh cửa nào mà chúng ta muốn. Thế giới hiện đại cũng đang sử dụng cùng chiếc chìa khóa chủ đó, nhưng  chỉ dành  cho những  thành tựu vật chất, và đang mở ra hết cánh cửa này đến cánh cửa khác với những thành công kỳ diệu.

Sự thay đổi hay tính vô thường  là đặc tính cốt yếu của mọi sự tồn tại mang tính hiện tượng. Ta không thể nói về bất kỳ điều gì, hữu tình hay vô tình, hữu cơ hay vô cơ, rằng “điều này tồn tại lâu dài”, vì ngay khi chúng ta nói như vậy, điều đó đang chịu sự biến đổi. Mọi sự đều đang tan biến; nét đẹp của những bông hoa, giai điệu lảnh lót của những con chim, tiếng vù vù của loài ong, và sự rực rỡ của buổi chiều tà.

“Giả sử bạn đang ngắm cảnh hoàng hôn lộng lẫy. Cả một khoảnh trời ở phương Tây đang rực sáng với những sắc màu hồng sẫm; nhưng bạn cũng nhận biết rằng chỉ trong vòng nửa giờ đồng hồ nữa thôi, tất cả những sắc độ lộng lẫy ấy sẽ nhạt dần rồi trở thành xám xịt. Bạn thấy chúng đúng vào lúc chúng đang tan biến trước mắt mình, mặc dù đôi mắt của bạn không thể đặt trước mình cái kết luận mà lý trí của bạn vừa rút ra. Và kết luận đó là gì? Kết luận đó là ngay cả trong một khoảnh khắc ngắn nhất có thể được gọi tên hay nhận biết, bạn cũng không bao giờ thấy bất kỳ một màu sắc nào tồn tại trọn vẹn, bất kỳ một màu sắc nào đúng như nó đang là. Trong một phần triệu của một giây, toàn bộ sự huy hoàng của bầu trời được tô màu kia đã chịu hằng hà sa số những chuỗi biến đổi. Một sắc độ được thay thế bởi một sắc độ khác với một sự nhanh chóng thách thức mọi sự đo lường; nhưng vì đó là một tiến trình không có một sự đo lường nào có thể áp dụng được… lý trí từ chối đưa ra một sự nắm giữ bất kỳ một giai đoạn nào của cái cảnh tượng thoảng qua đó, hoặc tuyên bố rằng đó là như vậy; vì ngay trong cái vẻ tồn tại đó, nó đã không tồn tại; nó đã nhường chỗ cho một điều gì khác. Đó là một chuỗi những màu sắc thoảng qua mà không một màu sắc nào trong cái chuỗi đó tồn tại, vì mỗi màu sắc trong chuỗi đó lần lượt loại trừ lẫn nhau” Ferrier’s Lectures and Remains Quyển I, tr. 119, dẫn lại trong Sarva-dorsana-Sangraha, London, tr. 15.

Mọi sự vật cấu thành – nghĩa là tất cả những sự vật vốn phát  sinh như hệ quả của các nguyên  nhân, rồi đến lượt chúng  lại làm phát  sinh những  hệ quả khác – đều có thể được đúc kết trong một từ, từ đó là vô thường (anicca).  Vì vô thường  nên gây đau khổ và vì đau khổ nên là vô ngã.

Được ngụy trang, ba đặc tính này của cuộc đời phổ biến khắp thế gian cho đến khi một bậc Giác Ngộ chứng đắc thực tính của chúng. Chính là để tuyên thuyết về ba đặc tính này – và làm thế nào thông qua sự nhận thức triệt để về chúng, một con người đạt tới sự giải thoát của tâm trí – mà một vị Phật đã ra đời. Đó chính là điều cốt yếu nhất, là nội dung tổng quát nhất của giáo pháp của Đức Phật.

Mặc dù vô thường áp dụng cho mọi pháp hữu vi, mọi sự vật do duyên sinh, Đức Phật quan tâm hơn đến cái được gọi là chúng hữu tình; vì vấn đề là đối với con người chứ không phải là đối với các sự vật tĩnh tại. Giống như một nhà giải phẫu tách một cánh tay thành các mô rồi tách các mô thành những tế bào, Đức Phật, bậc Thế gian giải, đã phân tích cái được gọi là chúng sanh, sankhāra puñja, một tập hợp lộn xộn những tiến trình, thành ra năm khối kết  tập luôn luôn biến đổi mà nhà Phật gọi là năm uẩn, và làm rõ rằng chẳng có gì tồn tại mãi, chẳng có gì được bảo toàn vĩnh viễn, trong dòng chảy của các uẩn. Chúng là sắc (hình thái vật chất hay thân thể), thọ (hay cảm giác), tưởng (hay sự nhận biết), hành (các yếu tố tâm lý có năng lực thúc đẩy, như ý chí), và thức (hay nhận thức phân biệt).

Đức Giác Ngộ giải thích:

“Này các Tỳ-kheo, năm uẩn là vô thường; bất kỳ cái gì là vô thường, cái đó là khổ, (không thỏa mãn); bất kỳ cái gì là khổ, cái đó là không có ngã. Cái gì không có ngã, cái đó không phải là cái của tôi, cái đó không phải là tôi, cái đó không phải là tự ngã của tôi. Cái gì là vô ngã, cần phải được như thật quán với chánh trí tuệ (sammappaññāya). Người nào thấy bằng chánh trí tuệ, thấy chân thật như vậy, tâm người đó không còn chấp trước, được giải thoát khỏi nhiễm ô; người ấy được giải thoát” Kinh Tương Ưng Bộ (SN 22.45).

Bồ-tát Long Thọ (Nāgarjuna), nhắc lại ý trên của Đức Phật, nói, “Khi khái niệm ngã (ātman) không còn, thì khái niệm về ‘cái của tôi’ cũng mất đi và người đó đã giải thoát khỏi ý niệm về tôi và cái của tôi” (Trung Quán Luận Tụng. – Maadhyamika-Kaarikaa, xviii.2).

Đức Phật đưa ra năm ẩn dụ đầy ấn tượng để minh họa cho tính chất phù du của năm uẩn. Ngài so sánh sắc với đống bọt, thọ với bong bóng nước, tưởng với ráng mặt trời, hành với thân cây chuối (không có ruột cây, lõi gỗ), và thức với trò ảo thuật; và hỏi, Này các Tỳ-kheo, điều cốt lõi nào có thể có trong đống bọt, trong những bong bóng nước, trong ráng mặt trời, trong một thân cây chuối, trong một trò ảo thuật?”.

Đức Phật dạy tiếp:

“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?”.

Đức Phật dạy với cùng thể cách ấy về những  uẩn còn lại và hỏi:

“Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ, trong tưởng, trong hành, trong thức được?” — Kinh Tương Ưng Bộ, HT. Thích Minh Châu dịch.

Với sự phân tích về năm uẩn như vậy, một phạm vi tư tưởng tiến bộ hơn xuất hiện. Chính là ở giai đoạn này mà sự hiểu biết chân thật được gọi là tuệ giác hay minh sát tuệ (vipassaana) bắt đầu có tác dụng. Thông qua tuệ giác bởi sự minh sát này mà bản chất thực của năm uẩn được nắm bắt và được nhìn thấy dưới ánh sáng của Tam Pháp Ấn (tilakkhana): vô thường, khổ, và vô ngã.

Không chỉ năm uẩn mới là vô thường, khổ và vô ngã, mà nhân và duyên tạo thành năm uẩn cũng vô thường, khổ và vô ngã. Điểm này Đức Phật dạy rõ:

Sắc, thọ, tưởng, hành và thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ngũ uẩn sanh  khởi; cái ấy cũng vô thường. Ngũ uẩn đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, làm sao có thể thường được?

Sắc, thọ, tưởng, hành và thức, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ngũ uẩn sanh khởi; cái ấy cũng khổ. Ngũ uẩn đã được cái khổ làm cho sanh khởi, này các Tỷ- kheo, làm sao có thể vui thích hay thỏa mãn được?

Sắc, thọ, tưởng, hành và thức, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ngũ uẩn sanh khởi; cái ấy cũng vô ngã. Ngũ uẩn đã được cái vô ngã làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, làm sao có thể có ngã được?

Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Đa văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta được giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa” Kinh Tương Ưng 22.7-9, tóm tắt.

Khi sai lầm trong việc thấy được thực tánh của các pháp thì luôn luôn kiến giải của ta bị che mờ; với những nhận thức có được vì tiên kiến, vì tham sân, vì yêu ghét, ta không thể thấy được các cơ quan cảm giác và các đối tượng cảm giác theo đúng bản chất tương ứng và khách quan của chúng, vì thế ta đuổi theo ảo ảnh và những điều dối gạt. Cơ quan cảm giác lừa gạt và đánh lạc hướng ta cho nên ta không thể thấy được vạn sự vạn vật trong cái ánh sáng thật của chúng, đến nỗi cái cách nhận biết sự vật của ta trở nên điên đảo.

Đức Phật dạy về ba loại vọng tưởng điên đảo vẫn bám chặt tâm trí con người; đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo và kiến điên đảo. Khi bị vây bủa bởi những vọng tưởng này thì con người nhận thức, suy nghĩ, và thấy biết sai lầm. Anh ta tưởng cái vô thường là thường, cái khổ là vui, cái vô ngã là ngã, cái xấu xa là đẹp. Anh ta cũng suy nghĩ và thấy biết một cách sai lầm như thế. Như vậy, mỗi một vọng tưởng tác động theo bốn cách1  (đoạn Tưởng điên đảo trong Kinh Tăng Chi 4.49), dẫn con người đi lạc đường, làm mờ cái thấy của anh ta, và làm cho người ấy lúng túng. Đó là lỗi của việc tư duy không sáng suốt, của việc quán sát không có hệ thống. Chỉ có Chánh trí (hay Minh sát tuệ) mới diệt trừ những điên đảo này và giúp con người nhận thức được thực tánh nằm dưới mọi hiện tướng. Chỉ khi con người thoát ra khỏi đám mây của điên đảo và ảo tưởng ấy thì anh ta mới tỏa sáng với tuệ giác chân thật giống như như ánh trăng rằm hiện ra lấp lánh sau đám mây đen.

Các uẩn tạo thành tâm và thân của chúng sanh, mãi mãi lệ thuộc vào nhân và duyên như ta đã thấy ở trên, trải qua những khoảnh khắc nhanh chóng đến không thể nhận biết được của quá trình sinh khởi, tồn tại, và biến mất, chẳng khác những lượn sóng không ngừng của biển cả hay như một dòng sông trong cơn lũ tràn lên đến đỉnh điểm rồi rút mất. Quả thật, đời người được ví với con suối bắt nguồn từ núi chảy dồn xuống, thay đổi không ngừng, như một dòng chảy.

Heraclitus, triết gia nổi tiếng người Hy Lạp, là người Tây phương đầu tiên đã nói về bản chất dễ thay đổi của sự vật. Ông đã giảng về lý thuyết “mọi sự đều trôi chảy” (Panta Rhei) tại thành Athens, và người ta vẫn hồ nghi không biết có phải lý thuyết ấy đã từ Ấn Độ truyền đến cho ông hay chăng.

Heraclitus nói, “Không có bản chất tĩnh tại, không có nền tảng không thay đổi. Biến đổi, chuyển động, là chúa tể của vũ trụ. Mọi vật đều ở trạng thái đang trở thành, của dòng chảy liên tục”.

Ông tiếp, “Người ta không thể bước hai lần vào cùng một dòng sông; vì dòng nước mới luôn tuôn chảy dưới chân mình”. Tuy nhiên, một người đã hiểu được nguồn cội của Pháp còn đi xa hơn thế và nói, “Cùng một con người không thể bước hai lần vào cùng một dòng sông; vì cái gọi là con người kia chỉ là một dòng chảy của thân và tâm, không bao giờ giữ được sự giống hệt như nhau trong hai khoảnh khắc liên tiếp”.

Nay thì ta nên nhận biết rõ, cái thực thể, mà vì những mục tiêu thực tiễn khiến ta gọi là đàn ông, đàn bà, hay một cá nhân, chẳng phải là một cái gì tĩnh tại, mà là động, là ở trong một trạng thái của sự biến đổi thường hằng và liên tục. Nay, khi một người nhìn cuộc đời và tất cả những gì liên quan đến cuộc đời dưới ánh sáng chân lý này, và hiểu được một cách thấu đáo rằng cái được gọi là chúng sinh kia chỉ là một chuỗi tâm lý và sắc thân ngũ uẩn, người ấy thấy được mọi sự vật đúng như chúng đang thực là. Người ấy không còn giữ tà kiến về “niềm tin nhân cách”, niềm tin vào một linh hồn hay một bản ngã; vì qua Chánh trí người ấy biết rằng mọi sự tồn tại mang tính hiện tượng đều do duyên sinh, rằng mỗi sự vật đều phụ thuộc vào sự vật khác, và rằng sự tồn tại của sự vật ấy là có liên quan với điều kiện ấy. Kết quả, người ấy biết không hề có cái “Tôi”, không có một thực thể tâm linh tồn tại mãi, không có nguyên lý ngã, không có bản ngã hay bất kỳ thứ gì liên quan đến một bản ngã trong tiến trình của cuộc sống này. Như thế, người ấy được giải thoát khỏi ý niệm về một tiểu ngã hay đại ngã.

Nhờ thiền Minh sát tuệ, hành giả thấy được sự vật như chúng là, chứ không như chúng có vẻ là.Việc quán sát sự vật như chúng thực là, như ta đã bàn ở trước, bao gồm việc thấy được bản chất vô thường, khổ và vô ngã của tất cả những pháp hữu vi và pháp duyên sanh. Đối với một đệ tử thiền định như vậy của Đức Phật,“thế giới”này không phải là thế giới ngoại tại hay thế giới được biết do kinh nghiệm, nhưng là chính thân xác con người và ý thức của nó. Đó là thế giới của ngũ uẩn về sự bám chấp. Đó là cái thế giới mà hành giả cố để hiểu với tính cách vô thường, khổ, và không có ngã hay không có linh hồn. Đức Ph ật đã nói đến chính cái thế giới của thân và tâm này khi Ngài bảo Mogharaaja, “Này Mogharaaja, hãy luôn tỉnh giác, hãy quán sát thế giới này là trống không; từ bỏ được ý niệm về ngã thì một hành giả có thể vượt qua cái chết. Ma vương không thể thấy được người đã biết rõ thế giới như vậy” (Sutta Nipāta).

Nội dung tổng quát của triết học biến dịch được tuyên thuyết trong Phật giáo nói rằng mọi pháp hữu vi vốn hiện hữu do duyên sanh đều chỉ là tiến trình chứ không phải là một nhóm thực thể tồn tại chắc thật, nhưng sự biến đổi xảy ra trong sự nối tiếp nhanh  chóng đến nỗi con người cho rằng thân và tâm là những thực thể tĩnh tại. Con người không thấy được sự sinh khởi và sự tan rã của chúng, mà chỉ thấy chúng là một khối thống nhất, thấy chúng như một toàn bộ hay toàn thể.

Tất nhiên, thật là hết sức khó để con người, với những sự phóng chiếu của tâm thức, quen suy nghĩ liên tục về thân và tâm của chính họ và về ngoại giới như một toàn thể, như những đơn vị không thể tách rời, giũ bỏ được cái diện mạo giả dối của “tính toàn thể” đó. Bao lâu mà con người chưa thấy được mọi sự vật như các tiến trình, như những chuyển động, con người sẽ không bao giờ hiểu được lý thuyết vô ngã của Đức Phật. Đó là lý do khiến con người xấc xược và hấp tấp đặt câu hỏi, “Nếu như không có một thực thể cố định, không có quy luật không thay đổi, như ngã hay linh hồn, vậy thì cái gì trải nghiệm những kết quả của hành vi ở kiếp này và kiếp sau?”

Câu hỏi cháy bỏng  này được  hai bản  kinh khác nhau nói đến, một ở Trung Bộ 109 và một ở Tương ưng Bộ 22.82. Ngay khi Đức Phật vừa giải thích một cách tường tận cho đệ tử của Ngài về bản chất vô thường của năm uẩn, làm thế nào mà năm uẩn lại không có tự ngã, và làm thế nào mà những thái độ kiêu ngạo tiềm ẩn “Tôi là” và “của tôi” lại chấm dứt hiện hữu, thì đã khởi lên trong tâm của một Tỳ-kheo đang có mặt giữa hội chúng, rằng, “Sắc thân này không phải là ngã, cảm thọ không phải là ngã, tưởng không phải là ngã, hành không phải là ngã, thức không phải là ngã. Vậy thì cái ngã nào ảnh hưởng đến những hành vi vô ngã?”.

Đọc được suy nghĩ trong tâm của vị Tỳ-kheo ấy, Đức Phật nói, “Câu hỏi này không nêu đúng vấn đề”, và giải thích thêm để vị tu sĩ ấy hiểu đúng tính vô thường, khổ, vô ngã của năm uẩn.

“Thật là sai lầm khi nói rằng kẻ thực hiện hành vi là đồng với kẻ trải nghiệm kết quả của hành vi đó. Cũng thật là sai lầm khi nói rằng kẻ thực hiện hành vi với kẻ trải nghiệm kết quả của hành vi là hai người khác nhau”, vì một lý do đơn giản là điều mà chúng ta gọi là đời sống thực ra chỉ là một dòng chảy của tiến trình tâm – vật lý hay năng lượng, sanh diệt liên tục; không thể nói rằng chính kẻ thực hiện hành vi đang trải nghiệm kết quả, vì chính anh ta đang biến đổi trong từng khoảnh khắc của đời mình; nhưng cùng lúc, ta không được phép quên đi sự thật rằng sự tiếp nối của đời sống là sự tiếp tục của cảm thọ. Diễn trình của các sự kiện không hề mất đi; nó nối tiếp không có khoảng cách. Đứa trẻ không cùng là một như cậu thanh niên, cậu thanh niên không cùng là một như người trưởng thành, họ vừa không cùng là một người nhưng cũng không phải là những người khác nhau. Chỉ có một dòng chảy của những tiến trình thân và tâm.

Có ba bậc giáo thọ, bậc thứ nhất dạy rằng ngã hay cái tôi là thật có cả ở hiện tại lẫn tương lai (kiếp này và kiếp sau); bậc thứ hai dạy rằng ngã chỉ thật có trong kiếp này, mà không có trong kiếp sau; bậc thứ ba dạy rằng khái niệm về ngã là một sự huyễn ảo: ngã không thật có cả trong kiếp này lẫn ở kiếp sau.

Bậc thứ nhất là chấp thường (sassatavādi); bậc thứ hai là chấp đoạn (ucchedavādi); và bậc thứ ba chính là Đức Phật; Ngài đã dạy con đường trung đạo xa lánh hai cực đoan thường và đoạn. (Ở đây, trung đạo là thuyết duyên khởi hay thuyết nhân duyên – Paticca Samuppāda).

Mọi tôn giáo hữu thần đều dạy rằng sau khi chết, theo cách này hay cách khác, ngã vẫn tồn tại chứ không mất đi. Chủ nghĩa duy vật thì cho rằng ngã mất đi khi chết. Nhà Phật cho rằng không có ngã hoặc bất cứ cái gì chắc chắn hay trường cửu, mà mọi thứ đều do nhân duyên, lệ thuộc vào sự chuyển biến, chúng thay đổi và không giữ được sự giống nhau trong hai sát-na liên tiếp; chúng chỉ có tính liên tục chứ không có tính đồng nhất.

Bao lâu còn đắm đuối với ý niệm về cái ngã hay cái tôi trường cửu, con người sẽ không thể nhận thức được rằng mọi sự vật đều vô thường; rằng trong thực tại, có sự sinh diệt của mọi sự vật. Hiểu rõ về học thuyết vô thường, lý thuyết đặc thù của Phật giáo, là điều không thể thiếu được trong việc tìm hiểu giáo nghĩa Tứ Thánh đế và những giáo pháp cơ bản khác của Phật giáo.

Nhân loại trong thế giới ngày nay đều nhận thấy tính chuyển biến của cuộc đời. Tuy nhiên, họ không giữ được điều đó trong tâm để hành động với sự sáng suốt không thiên vị. Mặc dù bãi bể nương dâu lần này qua lần khác báo cho họ biết và khiến họ đau khổ, họ vẫn theo đuổi những sự nghiệp điên rồ của mình trong vòng quay của bánh xe luân hồi, bị quấn kẹp trong những chiếc căm đau đớn. Họ ấp ủ niềm tin rằng có thể khám phá một đường lối hạnh phúc ngay trong sự chuyển biến đó, tìm được một trung tâm an toàn trong cái vòng quay vô thường. Họ tưởng tượng rằng mặc dù thế giới là bất định, họ có thể làm cho thế giới ấy trở nên chắc chắn và mang lại cho nó một nền tảng cố định, và thế là cuộc tranh đấu không ngừng nghỉ cho việc cải thiện cuộc sống thế tục tiếp tục diễn tiến với những nỗ lực bền bỉ và nhiệt tình vô ích.

Lịch sử đã chứng minh nhiều lần và sẽ tiếp tục chứng minh rằng không có gì trong thế giới này là vĩnh cửu. Mọi sự vật được đeo bám để thất bại. Những quốc gia và các nền văn minh xuất hiện, nảy nở, rồi tàn phai như những đợt sóng trên đại dương; nhường chỗ cho cái mới; và cứ như thế, những cuộn giấy thời gian ghi nhận hoạt cảnh lịch sử trôi qua, tầm nhìn không có nền tảng, và dòng chảy nhạt nhòa, là lịch sử của nhân loại.

Chú thích:

1. Bốn tưởng điên đảo gồm: Vô thường nghĩ là thường, khổ nghĩ là lạc, vô ngã nghĩ là ngã, không thanh tịnh nghĩ là thanh tịnh (trang 412 Tăng Chi Bộ) „

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-17741_5-50_6-8_17-536_14-1_15-1/su-that-ve-vo-thuong-piyadassi-thera-thich-thien-chanh-dich.html

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Mì căn khìa chua ngọt – Diệu Sương

DSC_0054

Món này ăn với cơm thì hết ý, làm nhanh và gọn lắm. Các bạn thử làm để ăn chay mấy ngày Tết nhe.

Công thức như vầy

  • 1/2 cốc (cup) bột mì căn
  • 1/2 cốc nước
  • Nếu không có bột mì căn thì làm bằng mì căn bán ở ngoài chợ cũng được nhưng mà nó không có phồng đâu nhe
  • Dầu để chiên

Nước xốt

  • 2 muỗng canh giấm trắng, hay là nước me
  • 2 muỗng canh đường vàng
  • 2 muỗng canh nước tương, DS dùng nước tương Kikkoman
  • 2 trái ớt hiểm, bằm nhuyễn
  • 1 muỗng cà phê gừng bằm

Cách làm

1. Cho nước vào tô, rắc bột mì căn vào, nhồi thành cuộn tròn, để bột nghỉ 15 phút.

2. Trong khi chờ bột nở mình làm nước xốt.

3. Cắt lát mì căn theo chiều dài, rồi cắt lại thành cọng.

4. Chiên lửa vừa (medium), chừng nào thấy mì căn phồng lên là được, muốn dòn thì để cho vàng, còn muốn dai thì vừa phồng hơi vàng thì gắp ra.

5. Chiên xong hết mì căn rồi thì chắt dầu ra bỏ. Cho nước xốt vào nấu sôi, cho mì căn vào sên nhỏ lửa, trộn đều cho nước xốt khô thấm hết vào mì căn là được.

Chúc các bạn làm mì căn khìa chua ngọt thành công.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Diệu Sương

Đậu Bắp - Vị Khắc Tinh Của Bệnh Tiểu Đường

okra

Bhindi ("okra") - Diabetes Killer 糖尿病剋星~秋葵

Tôi được biết một phương pháp trị liệu bệnh tiểu đường qua một chương của đài truyền hình. Vì chính tôi là người có bệnh tiểu đường, và sau khi thử, tôi cảm thấy có hiệu qủa thật. Hiện giờ số lượng đường trong máu của tôi đã được chận đứng, tôi không cần phải uống nhiều thuốc nữa.

Em gái tôi chích Insulin đã nhiều năm, nay đã khỏi bệnh. Sau khi dùng phương pháp uống đậu bắp, khoảng vài tháng sau thì em tôi không cần chích Insulin nữa.

Bạn cứ thử xem sao! nếu không có hiệu qủa thì cũng chẳng có gì là hại cả. Vì có nhiều trường hợp hiệu qủa đến hơi chậm, bạn cứ kiên trì uống thử vài tháng xem sao. Phương pháp rất đơn giản.

Lấy 2 qủa đậu bắp, cắt bỏ 1 tí khúc đầu và 1 tí khúc đuôi, xong mổ 1 đường thẳng theo chiều dài (không mổ đứt), sau đó cho 2 qủa đậu bắp vào ngâm trong một cái ly đựng 8oz nước uống (nguội), đậy lại ngâm qua đêm. Sáng hôm sau, trước khi ăn sáng, bạn vớt bỏ 2 qủa đậu bắp vứt đi, chỉ uống hết ly nước ngâm đậu bắp mà thôi. Bạn phải kiên nhẫn uống mỗi ngày, sau 2 tuần lễ, bạn sẽ thấy đường trong máu của bạn sẽ xuống một cách không ngờ.

http://batkhuat.net/yhoc-daubap-tritieuduong.htm

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Mẫu Hình Người Cư Sĩ Lý Tưởng

Trong những chúng đệ tử Phật, thì chúng cư sĩ tại gia chiếm số lượng đông đảo và có những ảnh hưởng nhất định đối với diện mạo của Phật giáo nói chung. Khảo sát từ kinh tạng và qua cuộc đời của những vị cư sĩ tiêu biểu thời Phật cho thấy, mẫu hình người cư sĩ lý tưởng được Đức Phật đề cập khá cụ thể và chi tiết. Theo khảo sát, một người cư sĩ lý tưởng phải hoàn thiện bốn phẩm chất cơ bản: Ổn định về kinh tế; trang nghiêm về giới hạnh; thăng bằng và điều hòa; hộ pháp và hoằng pháp.

Ổn định về kinh tế

Chúng sanh sở dĩ tồn tại là nhờ vật thực(2). Muốn tồn tại thì cần phải có điều kiện của tồn tại. Điều kiện tồn tại của chúng sanh là thức ăn trong nghĩa rộng nhất của từ ngữ. Ở đây, sự ổn định và vững chãi về kinh tế là điều kiện cơ bản cho mọi sự tồn tại của một con người nói chung và người cư sĩ nói riêng. Hơn thế, với một người cư sĩ, ngoài vật thực nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại, thì cần phải có những bổn phận tương ưng trong các mối quan hệ của mình.

Cụ thể, người cư sĩ cần phải có nền tảng kinh tế vững vàng nhằm đem lại an lạc cho cha mẹ, vợ con và những người thân liên quan(3). Người cư sĩ tạo sinh kế và điều kiện sống cho kẻ khác, đem lại lợi ích, an lạc, hạnh phúc cho kẻ khác, được Đức Phật gọi là bậc chân nhân(4). Chiêm nghiệm sâu thêm về gia cảnh của các vị đại thí chủ tiêu biểu trong thời Đức Phật như Anathapindika, Visakha, Màtikamàtà, Vimalakirti… cho thấy rằng, họ là những cư sĩ có một nền tảng kinh tế khá ổn định và vững vàng.

Một đời sống tự chủ về kinh tế thì sẽ ngăn ngừa cũng như phòng hộ một số loại phiền não, tránh được những thúc bách liên quan đến nhu cầu vật chất thường gặp, trong đời sống thường nhật của một cư sĩ tại gia. Theo Đức Phật, nghèo khổ là một phiền não. Vì nghèo khổ góp phần làm xuất sinh nhiều chủng loại phiền não khác như bị mắc nợ, bị hối thúc, bị truy đuổi, bị đe dọa tính mạng, bị khủng bố(5)... Theo kinh Cứu la đàn đầu(6), thì nghèo khổ và nghèo khổ quá mức còn là cửa ngõ dẫn khởi những hệ lụy, những nguy cơ tội ác. Đây là một thực tế có thể phát hiện trong dòng chảy tất bật của đời sống ngày nay.

Với người cư sĩ, Đức Phật luôn khuyến khích họ nỗ lực mưu sinh bằng khả năng riêng có và điều kiện nghiệp lực của riêng mình. Theo Đức Phật, không có sự sang hèn trong nghề nghiệp mưu sinh, không có sự phân biệt về giá trị giữa người nông phu hay viên sĩ quan quân đội. Ngoài năm nghề nghiệp bất chánh như buôn bán đao kiếm, buôn bán người, buôn bán thịt, buôn bán rượu, buôn bán thuốc độc(7) mà người cư sĩ không nên làm, thì cụm từ bất cứ nghề gì được ghi lại trong kinh Tăng chi(8) đã xác quyết, Đức Phật cho phép người cư sĩ tại gia được quyền mưu sinh bằng tất cả khả năng cũng như mọi điều kiện có thể, nhằm xây dựng một nền tảng kinh tế ổn định và bền vững.

Ngoài việc thừa nhận hạnh phúc về sở hữu và được quyền thọ hưởng vật sở hữu của người cư sĩ tại gia, thì Đức Phật đã từng bước khuyến khích hàng cư sĩ nên nỗ lực tìm kiếm những thứ hạnh phúc cao, bền vững hơn. Cụ thể như những hoạch định nhằm đem lại an lạc cho tha nhân, dấn thân vì lợi ích cho cộng đồng cũng như phát tâm hộ trì Tam bảo.

Để hoàn tất những bổn phận cần làm của người cư sĩ, cũng như thể hiện những ước nguyện đáng quý và thanh cao, thì điều kiện quan trọng đối với hàng cư sĩ tại gia, là phải ổn định về kinh tế.

Trang nghiêm về giới hạnh

Cùng song hành với niềm tin Tam bảo, người cư sĩ cần phải hoàn thiện những nguyên tắc đạo đức căn bản, kinh điển gọi là giới hạnh. Theo Đức Phật, một cư sĩ được gọi là trang nghiêm về giới hạnh thì cần phải hoàn thiện những phẩm chất: từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu nấu(9). Đây là năm nguyên tắc sống căn bản, là phẩm hạnh cần có của một người cư sĩ, là điều kiện để sanh Thiên giới. Người hoàn thiện đầy đủ năm phẩm chất này, còn được gọi là bậc c``hân nhân(10). Từ việc khảo sát kinh tạng cho thấy, tần suất của năm chuẩn mực đạo đức này được Đức Phật lặp lại hàng trăm lần và xuất hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau. Điều đó đã khẳng định sự quan trọng của năm nguyên tắc sống này, trong đời sống căn bản của một người cư sĩ.

Không những thế, ngoài năm nguyên tắc mang tính cố định, mẫu mực nêu trên, trong thực tế đời sống, người cư sĩ đúng mực cần phải thực hiện theo mười chuẩn mực đạo đức mang tính bổ trợ như: khiêm hạ, tàm quý, trung thực, kiên định, không phóng dật, nhẫn nhục, biết ơn, buông xả, dấn thân và tiết tháo. Đây là những chuẩn mực đạo đức mang tính bổ trợ, được Đức Phật tùy thuận thuyết giảng rải rác trong kinh. Sự hoàn thiện năm nguyên tắc và mười chuẩn mực đạo đức kể trên, tạo nên một phẩm chất đạo đức riêng có của một người cư sĩ lý tưởng.

Trong những lời dạy cuối cùng với những cư sĩ ở Pataligama, Đức Phật đã khẳng định có năm điều lợi ích đối với một cư sĩ trang nghiêm về giới luật. Thứ nhất, sẽ có tiền của dồi dào vì có được một đời sống không phóng dật. Thứ hai, được danh thơm tiếng tốt đồn xa. Thứ ba, người giữ giới đi vào hội chúng nào, hoặc Sát-đế-lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Thứ tư, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Và cuối cùng, người giữ giới, sống theo giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Đây có thể được coi là những quan tâm cuối cùng của Đức Phật, đối với hàng cư sĩ tại gia, được kinh Trường bộ11 và kinh Tiểu bộ(12) đồng xác tín.

Và để người cư sĩ tại gia gặp nhiều thuận lợi trong phương diện hành trì giới luật, Đức Phật đã có những lưu ý đặc biệt về môi trường sống, về quan hệ giao lưu bạn bè, từ trong kinh điển gọi là làm bạn với thiện(13). Làm bạn với thiện là thân cận với những vị có giới đức, có niềm tin; giao lưu và học tập theo gương của các vị đó. Làm bạn với thiện theo chuẩn mực Phật dạy còn mang ý nghĩa tiên phong hơn cả câu thành ngữ: Hãy cho tôi biết bạn của bạn là ai, tôi sẽ cho bạn biết bạn là người như thế nào.

Phẩm hạnh đạo đức sở dĩ có được là do hành trì. Với một người cư sĩ tại gia, việc áp dụng lời dạy của Đức Phật trong thực tiễn đời sống, cũng như có được một pháp môn căn bản để hành trì, là điều rất mực quan trọng. Ngay một người cư sĩ bận rộn như Visakha, bà vẫn ưu tư về một pháp môn hành trì phù hợp với thực trạng đời sống của người cư sĩ, để rồi được Đức Phật dạy cho pháp tu Bát quan trai(14). Từ đó thấy, tùy theo điều kiện của bản thân mà người cư sĩ có thể chọn lấy một pháp hành tương ứng. Đừng quan ngại sự tẻ nhạt hay đơn điệu của pháp hành trong giai đoạn đầu. Hãy đi rồi sẽ tới. Ở đây, để việc hành trì có kết quả, người cư sĩ nên nhờ một vị xuất gia có tâm và tuệ góp ý và lựa chọn cho mình một pháp hành, tương thích với điều kiện nghiệp lực của bản thân.

Người cư sĩ xông xáo trong đời nên thân và tâm dễ bị va chạm, thương tổn và hư hao. Với không gian hữu hạn của kiếp người và quỹ thời gian hạn chế do việc mưu sinh, do vậy, việc quan yếu của người cư sĩ là phải nỗ lực nhổ mũi tên sầu muộn trong kiếp sống này, bằng cách ứng dụng và hành trì theo những học pháp căn bản, mà Đức Phật đã tùy thuyết cho người cư sĩ tại gia.

Thăng bằng và điều hòa

Một đời sống ổn định, có khí lực sung mãn thì phải có một sự điều tiết thăng bằng và điều hòa thân, tâm. Điều thân cũng là một vấn đề quan trọng trong đời sống cũng như trong tu tập. Vì lẽ, nếu như thân không khỏe mạnh, bệnh tật liên miên, tất sẽ gặp nhiều trở ngại trong cuộc sống đời thường cũng như trong lộ trình tu tập.

Trước hết, muốn có được một thân thể tráng kiện, khinh an, thì phải ăn uống cho thích nghi(15). Trường hợp Đức Phật khuyên vua Pasenadi tiết độ trong ăn uống được ghi lại trong kinh Tương ưng là một ví dụ điển hình. Theo kinh, vua Pasenadi có một thân thể nặng nề vì ăn uống quá độ nên gặp trở ngại trong vận động và trong đi lại. Nhà vua tham vấn Đức Phật về vấn đề này và được Ngài ân cần chỉ dạy: Con người thường chánh niệm/ Ðược ăn, biết phải chăng/ Chừng mực, cảm thọ mạnh/ Già chậm, tuổi thọ dài(16). Từ lời khuyên này, vua Pasenadi đã tiết độ trong ăn uống và bước đầu tìm lại sự tráng kiện của thân thể.

Xem ra, mối quan hệ giữa ăn uống và sức khỏe đã được Đức Phật quan tâm từ rất sớm. Vì theo Đức Phật, sự điều hòa, tiết độ trong ăn uống, trong công việc, trong thú vui giải trí, tiêu dao… còn là những điều kiện cơ bản để có được một sức khỏe và trường thọ, như sự khái quát từ kinh Tăng chi: Làm việc thích đáng, biết vừa phải trong việc thích đáng, ăn các đồ ăn tiêu hóa, du hành phải thời và sống Phạm hạnh(17).

Với một người cư sĩ, vấn đề thăng bằng và điều hòa về những vấn đề cụ thể trong đời sống gia đình có ý nghĩa tối quan trọng, đôi khi định đoạt hạnh phúc của cả một gia đình. Chẳng hạn, sự điều hòa trong việc mưu sinh và nuôi dạy con cái. Đành rằng, kiếm tiền để nuôi sống gia đình và để lo cho tương lai con cái là điều rất mực quan trọng; tuy nhiên, việc quan tâm và dạy dỗ con cái cũng là trọng trách không thể thiếu của cả ông bố và bà mẹ. Đôi khi người cư sĩ cứ mải mưu toan sự nghiệp mà quên rằng, có những đứa con đang nếm trải cô đơn ngay trong chính gia đình mình. Bất hạnh này có thể bắt gặp từ lịch sử cho đến hôm nay.

Trong việc ứng xử với các mối quan hệ cơ bản của đời người, cũng cần có một tâm thế nhuần nhuyễn và cân bằng. Đơn cử, mặc dù phải chăm nom một gia đình riêng tư, nhưng người cư sĩ cần phải chung tay lo cho cha mẹ hai bên. Ứng xử chu toàn và phù hợp với hai bên nội ngoại không những là chất liệu đem đến hạnh phúc cho gia đình, mà còn là chuẩn mực lý tưởng của một người con hiếu thảo ở mọi thời đại. Không những thế, với các mối quan hệ còn lại như quan hệ thầy trò, bạn bè, thân tộc, láng giềng… người cư sĩ cũng tùy theo điều kiện của mình và hoàn cảnh thực tế, để có một thái độ ứng xử phù hợp. Thái độ sống không quá phung phí, không quá bỏn xẻn(18) về phương diện vật chất, là thái độ ứng xử đúng mực, với các mối quan hệ của một người cư sĩ.

Cần phải thấy, một đời sống thăng bằng và điều hòa với bản thân, với gia đình, trong các mối quan hệ xã hội… là trải nghiệm hạnh phúc đích thực của người cư sĩ.

Hộ pháp và hoằng pháp

Mang danh đệ tử Phật, người cư sĩ có trách nhiệm hộ pháp và hoằng pháp trong điều kiện có thể của mình. Trong bảy pháp thăng tiến của người cư sĩ được Phật dạy trong kinh Tăng chi chuyên chở cả hai nội dung, hộ pháp và hoằng pháp(19).

Trước hết, trong vai trò hộ pháp, người cư sĩ cần hỗ trợ các điều kiện sinh hoạt cho Tăng-già. Hộ pháp được hiểu ở đây tức là hỗ trợ các phương tiện và điều kiện, nhằm làm cho ngôi Tam bảo ổn định vững bền và ngày càng phát triển. Trong kinh Bổn phận người gia chủ, Đức Phật đã khẳng định với Anathapindika rằng, muốn trở thành một vị cư sĩ chân chánh, kinh văn gọi là vị Thánh đệ tử, thì phải hộ trì chúng Tỳ-kheo với y, hộ trì chúng Tỳ-kheo với đồ ăn khất thực, hộ trì chúng Tỳ-kheo với sàng tọa, hộ trì chúng Tỳ-kheo với dược phẩm trị bệnh(20).

Nói cách khác, vai trò hộ pháp đầu tiên của người cư sĩ, chính là góp phần đảm bảo điều kiện sống tối thiểu cho hàng xuất gia. Trong dòng chảy lịch sử, điều kiện sống của hàng xuất gia đôi khi có vài thay đổi nhỏ. Ở đây, tùy theo không gian và truyền thống tu tập, người cư sĩ nên uyển chuyển cân nhắc, để việc hỗ trợ cho Tăng-già được chu toàn và đủ ý nghĩa.

Nghĩa hộ pháp kế tiếp của người cư sĩ, là sự hỗ trợ về không gian tu. Không gian tu, có thể được xem là trung tâm tu học trong cách hiểu hiện đại, là một phương tiện quan trọng để giữ gìn cũng như phát triển giáo pháp. Trầm tư về ngôi Kỳ Viên tịnh xá, nơi lưu xuất nhiều bài kinh quan trọng, và là nơi chứng Thánh của nhiều vị đệ tử Phật, đã minh chứng rằng, không gian tu có ý nghĩa quyết định đối với sự thăng tiến trong tu tập nói riêng và sự phát triển của Phật giáo nói chung. Không gian tu ngày nay có thể là một ngôi chùa, một tịnh xá, một trung tâm tu học xứng tầm. Hộ pháp về phương diện không gian tu có một ý nghĩa quan trọng, được Đức Phật tán thán: Ai cho chỗ trú xứ, kẻ ấy cho tất cả(21).

Hộ pháp còn được hiểu là sự phòng hộ, gìn giữ ở nghĩa cụ thể, về các phương diện liên quan đến Tam bảo như kinh điển, chùa chiền, Tăng sĩ và thanh danh của Giáo hội. Ngay từ thời Phật, các thế lực không cùng con đường và khác biệt về lý tưởng, đã có những toan tính hòng làm vấy bẩn hình ảnh Tăng-già, phá hoại không gian tu cũng như bôi nhọ Phật giáo(22). Gặp phải những trường hợp đó, người cư sĩ đúng nghĩa cần phải chung tay hộ trì Tam bảo bằng khả năng có thể, với tâm thương yêu và sự tỉnh giác cao độ. Trong một vài trường hợp đặc biệt, người cư sĩ cần phải phát nguyện dấn thân, vì minh danh lý tưởng cao cả.

Trên phương diện hoằng pháp, trước hết, người cư sĩ phải tự mình hoàn thiện những phẩm hạnh đạo đức tự thân, nỗ lực trang bị cho mình những kiến giải cơ bản về pháp Phật. Câu chuyện cảm động về việc giải thuyết cho nhau nghe về pháp Phật, trong lúc người thân bệnh nặng, của đôi vợ chồng Nakula, là một bài học sống động về Phật hóa gia đình(23). Tự mình ứng dụng Phật pháp và trang bị chất liệu đó cho những người thân, là trách vụ hoằng pháp đầu tiên của hàng tại gia cư sĩ.

Phương thức hoằng pháp của người cư sĩ nếu như biết nhuần nhuyễn vận dụng, thì cũng rất đa dạng và phong phú, không nhất thiết là phải thăng tòa thuyết giảng. Với người cư sĩ, vận dụng nhuần nhuyễn Tứ nhiếp pháp có tác dụng bổ trợ rất lớn trong lãnh vực hoằng pháp nói chung. Theo kinh Tăng chi, sau khi tự mình hoàn thiện tín, giới, văn, thí xả, tàm quý, tinh cần… người cư sĩ còn khuyến khích kẻ khác cùng hoàn thiện như mình, thì được gọi là người cư sĩ vừa tự lợi vừa lợi tha(24). Trong một vài trường hợp đặc biệt, khi người cư sĩ thực hiện trọn vẹn trách vụ nêu trên, thì được Đức Phật tán thán là hơn cả bậc chân nhân(25). Đây là một kinh nghiệm có giá trị ứng dụng thực tiễn.

Vì lẽ, trong các chúng đệ tử Phật, chúng tại gia cư sĩ có một số lượng đông đảo và có điều kiện để tiếp cận với đủ mọi hạng người trong nhiều giai tầng xã hội. Đây cũng là những đối tượng đôi khi nằm ngoài tầm với của người xuất gia. Với ước tính sơ bộ, nếu như mỗi người cư sĩ tại gia chỉ cần chuyến hóa vài mươi người quy kính Tam bảo, thì sự nghiệp hoằng pháp ở nghĩa rộng nhất được khẳng định vững chắc. Đây vừa là bổn phận và đồng thời là thế mạnh của một người cư sĩ chân chánh.

Tạm kết

Mẫu hình người cư sĩ lý tưởng bàng bạc trên mỗi bước chân du hóa của Đức Phật và chư Tăng. Bậc chân nhân, là từ được Đức Phật sử dụng trong một số ngữ cảnh, nhằm vinh danh mẫu hình người cư sĩ lý tưởng. Đi tìm một mẫu hình có nhiều thuộc tính chung nhất của người cư sĩ, là điều không dễ dàng trong điều kiện hạn chế về tư liệu và bất cập về không gian. Với những nỗ lực bước đầu, chúng tôi cố gắng xây dựng những tiêu chí mang tính cơ bản, để mỗi người cư sĩ có thể tự tìm thấy mình trong đó. Và hơn thế, qua những chuẩn mực nêu trên, tạo cho người cư sĩ tại gia một sự khẳng định riêng có, cũng như một lý tưởng để hướng về.

Chú thích

(1) Kinh Tăng chi, chương Tám pháp, phẩm Gia chủ, kinh Thích tử Mahanama; Kinh Tương ưng, tập V, thiên Đại phẩm, chương XI, Tương ưng dự lưu, phần b, phẩm Phước đức sung mãn, kinh Mahanama; kinh Tạp A-hàm, Tương ưng Ma Ha Nam, kinh Ưu bà tắc, số 1308, bản dịch của Thích Đức Thắng, Tuệ Sỹ hiệu đính và chú thích.

(2)  Kinh Trường bộ, tập 2, kinh Thập thượng; kinh Tăng chi, chương Mười pháp, phẩm Lớn, kinh Những câu hỏi lớn. Xem thêm: 1. 大 佛 頂 首 楞 嚴 經,卷 八; 2. 大 正 新 脩 大 藏 經 第 一 冊 No. 12, 阿 含 部, 佛 說 大 集 法 門 經 卷 上. Nguyên văn: 一 切 眾 生 皆 依 食 住.

(3) Kinh Tăng chi, chương Bốn pháp, phẩm Nghiệp công đức, kinh Bốn nghiệp công đức.

(4) Kinh Tăng chi, chương Tám pháp, phẩm Bố thí, kinh Người chân nhân.

(5) Kinh Tăng chi, chương Sáu pháp, phẩm Dhammika, kinh Nghèo khổ.

(6) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Cứu La Đàn Đầu, số 5.

(7) Kinh Tăng chi, chương Năm pháp, phẩm Nam cư sĩ, kinh Người buôn bán.

(8) Kinh Tăng chi, chương Tám pháp, phẩm Gotami, kinh Dìghajanu, Người Koliya.

(9) Kinh Tương ưng, tập V, thiên Đại phẩm, chương XI, Tương ưng dự lưu, phần b, phẩm Phước đức sung mãn, kinh Mahanama.

(10) Kinh Tăng chi, chương Bốn pháp, phẩm Bậc chân nhân, kinh Các học pháp.

(11) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Đại bát Niết-bàn, số 16, Tụng phẩm 1.

(12) Kinh Tiểu bộ, tập 1, kinh Phật tự thuyết, chương tám, phẩm Pataligamiya.

(13) Kinh Tăng chi, chương Tám pháp, phẩm Gotami, kinh Dìghajanu, Người Koliya.

(14) Kinh Tăng chi, chương tám pháp, phẩm Ngày trai giới, kinh Visakha. Xem thêm, kinh Trung a hàm, phẩm Bô Đa Lợi, kinh Trì trai, bản dịch của Tuệ Sỹ.

(15) Kinh Trường bộ, tập 2, kinh Đại thiện kiến vương, số 17.

(16) Kinh Tương ưng, tập 1, chương 3, Tương ưng Kosala, phẩm thứ hai, kinh Đại thực.

(17) Kinh Tăng chi, chương Năm pháp, phẩm Bệnh, kinh Tuổi thọ.

(18) Kinh Tăng chi, chương Tám pháp, phẩm Gotami, kinh Dìghajanu, Người Koliya.

(19) Kinh Tăng chi, chương Bảy pháp, phẩm Vajji, kinh Bất hạnh thối đọa.

(20) Kinh Tăng chi, chương Bốn pháp, phẩm Nguồn sanh phước, kinh Bổn phận người gia chủ.

(21) Kinh Tương ưng, tập 1, Tương ưng chư Thiên, phẩm Thiêu cháy, kinh Cho gì?.

(22) Tích truyện Pháp cú, phẩm Thế gian, Chiến già vu khống Phật, Bản dịch của Viên Chiếu. Xem thêm, kinh Tiểu bộ, tập IV, chuyện Giải thoát sự trói buộc, số 120; kinh Tiểu bộ, tập V, chuyện Vua Bharu, số 213; kinh Tiểu bộ, tập VI, chuyện Vương tử liên hoa, số 472.

(23) Kinh Tăng chi, chương Sáu pháp, phẩm Cần phải nhớ, kinh Cha mẹ của Nakula.

(24) Kinh Tăng chi, chương Tám pháp, phẩm Gia chủ, kinh Thích tử Mahanama.

(25) Kinh Tăng chi, chương Bốn pháp, phẩm Bậc chân nhân, kinh Người có lòng tin.

Chúc Phú
(Nguyệt San Giác Ngộ)

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-93_4-17777_14-1_15-1_5-50_6-1_17-59/mau-hinh-nguoi-cu-si-ly-tuong-chuc-phu.html#detail