Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

Thông báo: Lịch Trinh Chuyến Đi Mỹ Quốc Của Cư Sĩ Diệu Âm Úc Châu 4-5/2013

image

Tháng 4 – 2013

• April 6-14/2013 : Tại Đạo Tràng Liên Trì Hải Hội (Santa Ana )

L/L : Hòa Thượng Thích Trí Đức 714-657-9191 or 951-325-8384

• April 19-20-21/2013 : Tại Đạo Tràng Tịnh Độ ( Sacramento, Cali )

L/L : CS Xuân Hòa : 916 -247 -8157

• April 23-24-25/2013:Tại Niệm Phật Đường Huệ Quang,Dallas, TX

L/L : CS Minh Quang : 214 -901-0686

• April 26-27-28/2013 : Tịnh Tông Học Hội Oregon

L/L : CS Tiểu Anh : 971 – 259 -8844

Tháng 5 – 2013

• April 29 to May 1 /2013: Đạo Tràng Liên Trì tại Vancouver, Canada

L/L : CS Diệu Hạnh 778-370-0762

• May 2- 3/2013: Chua Phuong Lien ( Calgary AB, CANADA )

L/L : CS Nhuan Lien 403-618-5288

• May 4-5/2013 : Tịnh Tông Học Hội Atlanta GA

L/L : CS Nguyên Minh 770-500-5060

• May 7-8/2013 : Niem Phat Duong NEW JERSEY

L/L : CS Thiện Thông 484-798-5426

• May 9-10/2013 : Tịnh Xá Liên Hoa Virginia

L/L : CS Phuong Doan 703-489-9739

• May 11-12 :Dao Trang Washington State

L/L : CS Hạnh Chơn 425 -210-4530

• May 13-14-15 Dao Trang Niem Phat ( Minnesota )

L/L : CS Hieu Ngoc 763-742-9639

• May 16-17/2013 : Tu Gia Niem Phat West PalmBeach

L/L : Liên Hữu Vân Khanh 561-716-4424

• May 18-19/2013 : Tại Thư Vien Tịnh Độ Phổ Hiền ( Pinelllas Park, Fl )

L/L : CS Quảng Môn 727-776-0126

• May 20,2013 : Tu Gia Dieu Am Tony

L/L : CS Dieu Am Tony 919-491-9322

• May 22,2013 (phái đoàn rời Mỹ ,USA )

Ghi Chú : Chương trình của Diệu Âm Úc Châu có thể cập nhập thêm, xin mời chư liên hữu hãy cập nhập trang nhà của www.tinhdophohien.com thường xuyên để biết them chi tiết.

Thư Viện Tịnh Độ Phổ Hiền

Trân Trọng Kính Báo

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Biền biệt tà chánh

Thích Phước Sơn

thuyetphap_jpg

Làm những việc thiện đương nhiên hưởng được hạnh phúc, làm các điều ác tất yếu chuốc lấy khổ đau. Thân cận bậc hiền trí thì tiền đồ sẽ sáng lạn, gần gũi kẻ vô trí thì viễn ảnh sẽ mịt mù. Đi theo chánh đạo thì đời sống trở nên thăng hoa, dấn thân vào tà giáo thì cuộc đời xem như vứt bỏ.

Cách nay 25 thế kỷ một người con ưu tú của dân tộc, đồng thời cũng là một vị cứu tinh của nhân loại đã xuất hiện tại một quốc gia có nhiều truyền thống văn hóa và tôn giáo nhất thế giới, đó là Ấn Độ. Sự ra đời của Ngài như một vầng Thái dương xuất hiện xua tan mọi bóng tối vô minh, dẫn lối đưa đường cho muôn vạn sinh linh thoát khỏi sông mê bể khổ. Nguồn ánh sáng bất tận ấy ngày nay đã lan tỏa khắp 5 châu, tạo điều kiện thuận lợi cho muôn triệu con tim khát khao chân lý tìm về nương tựa. Hôm nay kỷ niệm Đản sinh lần thứ 2544 của đức Từ Phụ, tất cả chúng ta lắng đọng tâm tư thành kính hướng về Thánh địa Ba-la-nại, hồi tưởng hình ảnh cao cả của bậc Đạo sư, ôn lại những lời giáo huấn vàng ngọc của Ngài, như một cử chỉ bày tỏ lòng tri ân đối với vị thầy muôn vàn tôn kính.

Sau khi trải qua bao năm gian khổ tìm được đạo mầu, đức Đạo sư muốn cho ánh sáng chân lý ấy được tỏa rạng muôn nơi, Ngài đã quyết định xua tan những đám mây mù bao phủ; mà những đám mây mù dày đặc nhất lúc bấy giờ không gì khác hơn là các tà thuyết. Do đó, đức Thế tôn đã dũng cảm vạch trần chân tướng của các tà thuyết, xiển dương chánh đạo, như một đoạn kinh sau đây đã trình bày:

“Này các gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết, những quan điểm như sau: Không có kết quả của sự bố thí cúng dường, không có kết quả của sự tế tự, không có kết quả của các nghiệp thiện ác, không có quá khứ, không có vị lai v.v...

Lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác chủ trương ngược lại quan điểm của những người trên, cho rằng: Có kết quả của sự bố thí cúng dường, có kết quả của các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau v.v...

Này gia chủ, trong hai hạng người trên, những người tà kiến bác bỏ nhân quả thiện ác, bác bỏ quá khứ, vị lai, thì họ sẵn sàng từ bỏ ba thiện nghiệp là ý nghĩ điều lành, miệng nói lời lành và thân làm việc lành; đồng thời, họ buông lung theo ba ác nghiệp: ý nghĩ điều ác, miệng nói lời ác và thân làm việc ác. Vì lẽ, họ không thấy được sự nguy hiểm, sự tai hại của các hành vi bất thiện và quả báo của những hành vi ấy. Nhưng sự thật là có đời trước, có đời này và có đời sau. Nếu ai cho rằng không có đời sau thì đó là một tà kiến. Nếu ai nghĩ rằng không có đời sau, thì đó là một tà tư duy. Nếu ai tuyên bố rằng không có đời sau, thì đó là một tà ngữ. Nếu ai phủ nhận đời sau thì mâu thuẫn với các vị A-la-hán, những bậc minh triết đã biết chắc chắn có đời sau. Nếu ai thuyết phục người khác rằng không có đời sau, thì sự thuyết phục ấy chống lại chân lý.

Này các gia chủ, những kẻ phủ nhận đời sau này, nếu quả thực không có đời sau, thì sau khi mệnh chung, họ cảm thấy an toàn. Nếu thật sự có đời sau, thì sau khi từ trần, chắc chắn họ sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Vì lẽ những kẻ này chỉ nhìn thấy một cách phiến diện.

Này các gia chủ, những kẻ phủ nhận đời sau này, ngay trong hiện tại bị các bậc minh triết chỉ trích rằng: “Đây là những kẻ ác kiến, theo ác giới, chủ trương vô nhân luận.” Do vậy những kẻ chủ trương tà kiến này phải chuốc lấy hai điều bất hạnh: ngay trong hiện tại bị người trí chê trách, sau khi chết sẽ sanh vào ác đạo.

Trái lại, này các gia chủ, những Sa-môn, Bà-la- môn chủ trương có nhân quả thiện ác, có đời trước, đời này và đời sau, có đạo lộ hướng đến giải thoát, thì trong hiện tại, họ từ bỏ suy nghĩ ác, từ bỏ nói lời ác, từ bỏ làm việc ác, và cố gắng suy nghĩ thiện, nói lời thiện và hành động thiện. Vì sao vậy? Vì họ thấy sự nguy hiểm, sự tai hại của những hành vi ác và sự lợi ích của những hành động thiện. Do đó, những vị này ngay trong hiện tại được các bậc hiền trí tán thán là những vị có chánh kiến, chánh tư duy và chánh ngữ; là những người theo thiện giới, chủ trương phù hợp với chân lý.

Này các gia chủ, nếu sự thật có đời sau, thì những vị này do làm các việc lành nên khi mệnh chung chắc chắn sẽ sinh lên cõi trời, sinh vào những cảnh giới an lành, hay tái sinh làm người. Giả sử, không có đời sau đi nữa, thì trong hiện tại những người này được mọi người khen ngợi là những người thiện, làm những việc lợi ích tốt đẹp. Do đó, cả hai phương diện - có đời sau hay không có đời sau - những vị này đều gặt hái những điều may mắn, diễm phúc.

Hai hạng người trên đây, một hạng chủ trương chủ nghĩa hư vô, bác bỏ nhân quả, một hạng tin vào luật nhân quả chủ trương có quá khứ, vị lai, có quả báo của các nghiệp thiện ác, đó là hai hạng người mà chúng ta thường thấy trên thế gian này.

Ngoài ra, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những kiến chấp như sau: “Phàm có những cảm giác vui hay buồn mà con người hiện tại đang cảm thọ, tất cả những cảm thọ ấy đều do nghiệp quá khứ quyết định.” Lại có một số người khác chủ trương rằng: “Những nỗi khổ, vui mà con người hiện tại đang cảm thọ, tất cả đều do một đấng tạo hóa tạo ra”. Lại có người khác chủ trương rằng: “Mọi người sống trên đời này giàu sang hay khốn cùng đều do sự ngẫu nhiên đưa đến.”

Đối với những ai tin một cách quả quyết vào các thuyết Định mệnh, thuyết do đấng tạo hóa tạo ra, thuyết ngẫu nhiên, thì sẽ không có những ước muốn, những nỗ lực “đây là những việc mà chúng ta cần phải thực hiện”, “đây là những việc mà chúng ta cần phải từ bỏ.” Do đó, trong hiện tại, những người này sống một cách vô vọng, ỷ lại, không có mục đích, không cố gắng hướng thượng.[1]

Thế nhưng, trong thực tế không thể nào có chuyện một người suy nghĩ ác, nói ác, làm ác mà lại hưởng được hạnh phúc, an lạc; mà điều hiển nhiên là những kẻ làm ác sẽ chuốc lấy những hậu quả khổ đau ngay trong hiện tại cũng như trong tương lai. Còn những người làm thiện sẽ hưởng những quả lành sung sướng, hạnh phúc trong đời sống hiện tại cũng như trong kiếp sống mai sau.

Ví như khi chúng ta đem hạt giống khổ qua, giống bồ hòn gieo vào trong đất ướt, thì vị gì nó hút lên từ đất, vị gì nó hút lên từ nước, tất cả những vị ấy đều mang tính chất đắng. Bởi vì bản chất hạt giống của nó vốn mang sẵn tính chất đắng trong mình. Trái lại, ví như khi chúng ta đem cây mía, cây chuối, trồng xuống trong đám đất ướt, thì những gì nó hút lên từ đất, từ nước, tất cả những vị ấy đều mang tính chất ngọt. Vì sao vậy? Vì bản chất mầm mống của nó vốn đã mang sẵn tính chất ngọt trong mình.[2]

Như vậy, nhân quả khác nhau của một kẻ theo tà kiến và một người theo chánh kiến, một kẻ làm ác và một người làm lành đã được đức Phật phân tích khá rõ ràng như ta đã thấy. Tiến thêm bước nữa, đức Phật phân tích về hai hạng người có trí và thiếu trí như sau:

Này các Tỷ kheo, có hai hạng người hiện hữu trên đời này, đó là người thiếu trí và người có trí. Phàm có sự sợ hãi nào khởi lên, tất cả những sự sợ hãi ấy đều khởi lên từ người thiếu trí, không phải khởi lên từ người có trí. Phàm có những sự nguy hiểm nào khởi lên, tất cả những sự nguy hiểm ấy đều khởi lên từ người thiếu trí, không phải khởi lên từ người có trí. Phàm có những tai họa gì khởi lên, tất cả những tai họa ấy đều khởi lên từ người thiếu trí, không phải khởi lên từ người có trí.

Như vậy, này các Tỷ kheo, người thiếu trí có sợ hãi, người hiền trí không sợ hãi; người thiếu trí có nguy hiểm, người hiền trí không có nguy hiểm; người thiếu trí có tai họa, người hiền trí không có tai họa.[3]

Này các Tỷ kheo, vì người thiếu trí suy nghĩ ác, nói lời ác, làm việc ác, do đó, các bậc minh triết biết đó là người thiếu trí, không phải bậc chân nhân. Trái lại, người hiền trí suy nghĩ thiện, nói lời thiện, hành động thiện, do đó, các bậc minh triết biết đó là người hiền trí, là bậc chân nhân.

Này các Tỷ kheo, người thiếu trí có ba đặc tính sau đây:“Khi phạm tội mà không biết mình phạm tội. Sau khi phạm tội, nếu biết là có tội vẫn không chịu ăn năn hối cải. Lúc được người khác chỉ bảo cho thấy những tội lỗi thì không thành thật thừa nhận”. Vì vậy mà các bậc minh triết biết đó là người thiếu trí.

Trái lại, người hiền trí thường có ba đặc tính sau đây: “Khi phạm tội, biết là phạm tội. Sau khi thấy rõ tội lỗi liền thành khẩn ăn năn sám hối. Lúc được người khác chỉ bảo cho thấy tội lỗi liền thành thật nhận lỗi”. Vì vậy mà các bậc minh triết biết đó là bậc hiền trí.[4]

Đó là đứng về phương diện có trí và vô trí mà đức Phật phân tích về hai hạng người đang hiện hữu trong cuộc đời. Còn đứng về phương diện hữu hiệu và vô hiệu đối với cuộc sống, đức Phật đã dùng những ảnh dụ rất thi vị để chỉ cho chúng ta thấy rõ bốn hạng người như sau:

Hạng người thứ nhất, có sấm mà không có mưa: đó là những người hay nói mà không làm. Hạng người thứ hai, có mưa mà không có sấm: đó là những người âm thầm làm mà không tuyên bố. Hạng người thứ ba, không có sấm cũng không có mưa: đó là những người không nói, cũng không làm.

Hạng người thứ tư, vừa có sấm vừa có mưa: đó là những người vừa nói lại vừa làm. Đó là bốn loại người thường có mặt trên cuộc đời này.[5]

Ngoài ra, còn có bốn hạng người khác khi xét về phương diện phước báo và vô phước: Hạng thứ nhất, sống trong bóng tối hướng đến bóng tối: đó là những người sinh ra trong gia đình bần cùng khốn khổ, thân thể xấu xí, bệnh tật. Tuy vậy, họ sống với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Hạng người này, do sống với ác hạnh, nên sau khi từ trần sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đó là hạng người sống trong bóng tối, hướng đến bóng tối.

Hạng người thứ hai, sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng: đó là hạng người sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, thiếu thốn, nhưng họ sống với thân làm việc lành, miệng nói lời lành, ý nghĩ điều lành. Do đó, sau khi mệnh chung, họ sẽ sinh vào các cảnh giới an lành, hoặc sinh lại cõi đời này. Đó là hạng người sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng.

Hạng người thứ ba, sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối: đó là những người sinh ra trong một gia đình cao sang, quyền quí, giàu có và sung túc, có ngoại hình đẹp đẽ, dễ thương. Nhưng họ sống với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do thế, sau khi từ trần, họ sẽ sinh vào các cõi dữ, tương xứng với những nghiệp ác mà họ đã tạo ra. Đó là hạng người sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối.

Hạng người thứ tư, sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng: đó là những người sinh ra trong các gia đình hào phú, sống sung túc, thân thể tráng kiện, dễ thương. Đồng thời họ sống với thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành. Những người này sau khi qua đời sẽ sinh vào các cõi lành, cõi trời, hoặc sinh lại cõi đời này. Đó là hạng người sống trong ánh sánh hướng đến ánh sáng.[6]

Như vậy đã rõ, con người vốn kế thừa nghiệp quả của mình trong một dòng tâm thức liên tục từ quá khứ sang hiện tại rồi đến vị lai. Do đó muốn biết nguyên nhân đời trước hãy xem những hưởng thụ trong đời này; muốn biết kết quả trong vị lai hãy nhìn vào những việc làm trong hiện tại. Thế thì, ai muốn hướng về bóng tối hay hướng đến ánh sáng đều có quyền tự quyết định số phận của mình.

Về một phương diện khác, khi đề cập đến thân bệnh và tâm bệnh, đức Phật một lần nữa làm cho chúng ta cảm thấy bàng hoàng và thấm thía: “Này các đệ tử, Ta thấy có những chúng sinh tự nhận mình là khỏe mạnh, không có thân bệnh được một năm, hai năm, mười năm, ba mươi năm, thậm chí có người không có thân bệnh suốt cả trăm năm. Thế nhưng, trong các chúng sinh ấy, khó tìm thấy một người nào hoàn toàn không có tâm bệnh dù chỉ trong một khoảnh khắc, ngoại trừ những vị đã đoạn tận mọi ô nhiễm của nội tâm.[7]

Thế nên, về phương diện tâm bệnh không phải chỉ có người đời mới mắc phải mà ngay cả những người xuất gia cũng vướng phải các chứng bệnh như sau: Có những người mang nhiều tham dục không tự bằng lòng với những y phục, ẩm thực, sàng tọa, thuốc men mình đang thụ hưởng mà luôn cảm thấy thiếu thốn. Đó là căn bệnh thứ nhất của người xuất gia. Những người ấy vì nhiều tham dục nên tỏ ra bực bội với những nhu cầu khiêm tốn hằng ngày và luôn khát khao mong được hưởng thụ nhiều hơn nữa. Đó là căn bệnh thứ hai của người xuất gia. Lại có những người nỗ lực tinh tấn tu học với niềm ước ao được nhiều lợi dưỡng, cung kính và danh vọng. Đó là căn bệnh thứ ba của người xuất gia. Những vị ấy, sau khi tính toán, đi đến các hội chúng, cố gắng thuyết pháp cho thật lưu loát để được quần chúng tán thưởng, và nhận được thật nhiều lợi dưỡng. Đó là căn bệnh thứ tư của người xuất gia.[8]

Tuy nhiên, việc đánh giá người khác không phải bất cứ ai cũng có thể làm được mà chỉ có những bậc chân nhân thật sự mới đủ khả năng đánh giá một cách công bằng, như đức Phật đã dạy:

Một người thiếu trí tuệ không thể biết được một người nào đó là bậc chân nhân hay không phải chân nhân, mà chỉ có một bậc thánh giả minh triết mới biết được một người nào đó là bậc chân nhân hay không phải chân nhân mà thôi.[9]

Trên đây, chúng ta đã thấy được phần nào bản chất của mỗi hạng người và những căn bệnh của bản thân mà họ đang gánh chịu. Giờ đây, chúng ta hãy tìm hiểu về lộ trình tu tập và thành quả của họ diễn biến như thế nào.

Muốn biết người cư sĩ tại gia tu học có thể đạt được giải thoát đến mức độ nào, chúng ta có thể nghe cuộc đối thoại giữa du sĩ ngoại đạo Vacchagotta với đức Đạo sư sau đây:

- Thưa tôn giả Gotama, có vị cư sĩ tại gia nào không dứt bỏ các sự trói buộc của gia đình mà khi mệnh chung đoạn tận khổ đau chăng?

- Này Vaccha, không có người tại gia nào không dứt bỏ các trói buộc của gia đình mà khi mệnh chung có thể đoạn tận khổ đau.

- Thưa tôn giả, có người cư sĩ tại gia nào không dứt bỏ các trói buộc của gia đình mà khi mệnh chung được sinh lên cõi trời chăng?

- Này Vaccha, những người tại gia không dứt bỏ các trói buộc của gia đình mà khi mệnh chung được sinh lên cõi trời không phải chỉ có 100, 200, 500 người mà còn nhiều hơn thế nữa.

- Thưa tôn giả, có hạng tà kiến ngoại đạo nào khi mệnh chung đoạn tận khổ đau không?

- Này Vaccha, không có một kẻ tà kiến ngoại đạo nào khi mệnh chung có thể đoạn tận khổ đau.

- Thưa tôn giả, có hạng tà kiến ngoại đạo nào sau khi mệnh chung có thể sinh lên cõi trời chăng?

- Này Vaccha, dù ta nhớ lại đến 91 kiếp quá khứ, Ta cũng khó thấy có một kẻ tà kiến ngoại đạo nào đã được sinh lên cõi trời, ngoại trừ một vị, và vị này có tuyên bố về nghiệp và tác dụng của nghiệp.[10]

Thế rồi, Vacchagotta hỏi tiếp đức Thế Tôn có vị Tỷ kheo, Tỷ kheo ni nào ngay trong hiện tại đoạn tận các cấu uế của nội tâm chứng đắc giải thoát rốt ráo hay không, thì đức Phật cho biết rằng các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni đã chứng quả giác ngộ giải thoát là nhiều vô số kể. Đoạn ông hỏi tiếp:

- Thưa tôn giả Gotama, có vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ nào là đệ tử sống tại gia mặc áo trắng, theo nếp sống phạm hạnh (tuyệt dục), sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử (những trói buộc cỡ thấp) được hóa sinh, nhập Niết-bàn ngay tại chỗ, không trở lại đời này nữa không?

- Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, năm trăm, mà nhiều hơn thế nữa là những nam nữ cư sĩ tại gia, theo nếp sống phạm hạnh, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn ngay tại chỗ, không trở lại cõi đời này nữa.

- Thưa tôn giả, vậy có vị nam nữ cư sĩ nào sống tại gia hưởng thụ ngũ dục nhưng tin tưởng giáo huấn của đạo sư, nỗ lực hộ trì thánh giáo, đoạn trừ hoài nghi, chứng đắc vô úy, không cần dựa vào người khác hay không?

- Này Vaccha, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, năm trăm mà nhiều hơn thế nữa là những nam nữ cư sĩ tại gia hưởng thụ ngũ dục…, mà vẫn chứng đắc vô úy, không cần dựa vào người khác.[11]

Thế nhưng, đối với một vị Tỷ kheo tinh tấn tu tập cho đến khi chứng đắc cứu cánh giải thoát thì khoảng thời gian tối đa là bao lâu và tối thiểu là bao lâu? Đó là điều mà Vương tử Bodhi đã hỏi đức Thế Tôn, và đức Phật đã đáp:

- Này Vương tử, nếu vị Tỷ kheo có niềm tin vững chắc đối với bậc Đạo sư; ít đau ốm, ít phiền não, cuộc sống quân bình; sống chân thật đối với thầy và bạn; siêng năng tu học đúng mức; có trí tuệ hiểu thấu đáo lộ trình mà mình đang tu tập, thì tối đa là bảy năm sẽ chứng đắc mục đích cứu cánh mà người xuất gia hướng đến.

Nhưng, này Vương tử, nếu một Tỷ kheo đầy đủ năm yếu tố kể trên thì không cần gì đến 7 năm mà có thể trong 6 năm, 5 năm, 4 năm, 3 năm, 2 năm, 1 năm sẽ đạt được mục đích. Hơn nữa, cũng không cần đến 1 năm, mà có thể trong 7 tháng, 6 tháng, … nửa tháng, thậm chí chỉ cần trong một ngày đêm sẽ đạt đến mục đích cuối cùng.

Lại nữa, này Vương tử, nếu vị Tỷ kheo thành tựu năm yếu tố kể trên, noi theo sự hướng dẫn của đức Như Lai, thì khi được nghe giảng pháp buổi mai sẽ chứng được sự thù thắng vào buổi chiều, khi được nghe giảng pháp vào buổi chiều sẽ chứng được sự thù thắng vào buổi sáng hôm sau.[12]

Quả thù thắng kể trên cũng chính là minh giải thoát. Thế rồi đức Phật luận giải về những trợ duyên của minh giải thoát mà Ngài gọi là thức ăn. Thế thì những gì là thức ăn của minh giải thoát?

- Đó chính là bảy Giác chi.

- Vậy thì những gì là thức ăn của bảy Giác chi?

- Đó chính là bốn Niệm xứ.

- Thế thì những gì là thức ăn của bốn Niệm xứ?

- Đó là ba Thiện hạnh.

- Thế thì những gì là thức ăn của ba Thiện hạnh?

- Đó là sự chế ngự các căn.

- Thế thì những gì là thức ăn của sự chế ngự các căn?

- Đó là Chánh niệm tỉnh giác.

- Vậy thì những gì là thức ăn của chánh niệm tỉnh giác?

- Đó là sự tư duy đúng đắn.

- Vậy thì những gì là thức ăn của tư duy đúng đắn?

- Đó là niềm tin chân chính.

- Vậy thì những gì là thức ăn của niềm tin chân chính?

- Đó là được nghe diệu pháp.

- Vậy thì những gì là thức ăn của sự nghe diệu pháp?

- Đó là giao thiệp với các bậc chân nhân.

Tóm lại, nhờ gần gũi các bậc chân nhân mà được nghe diệu pháp. Do nghe diệu pháp mà sinh khởi niềm tin. Do có niềm tin mà tư duy đúng đắn. Do tư duy đúng đắn mà có chánh niệm tỉnh giác. Do có chánh niệm tỉnh giác mà các căn được chế ngự. Do các căn được chế ngự mà ba thiện hạnh phát sinh. Do ba thiện hạnh phát sinh mà đạt được bốn niệm xứ. Do đạt được bốn niệm xứ mà thành tựu bảy Giác chi. Do thành tựu bảy Giác chi mà đạt được Minh giải thoát.[13]

Những gì vừa trình bày trên đây tuy gồm những phiến đoạn được rút ra từ nhiều nguồn tư liệu, nhưng chúng đã hình thành nên một sơ đồ khá rõ nét: làm những việc thiện đương nhiên hưởng được hạnh phúc, làm các điều ác tất yếu chuốc lấy khổ đau. Thân cận bậc hiền trí thì tiền đồ sẽ sáng lạn, gần gũi kẻ vô trí thì viễn ảnh sẽ mịt mù. Đi theo chánh đạo thì đời sống trở nên thăng hoa, dấn thân vào tà giáo thì cuộc đời xem như vứt bỏ.

Trong dịp lễ kỷ niệm Đản sinh lần thứ 2544 của đức Từ phụ, mỗi người Phật tử chúng ta hòa với niềm vui chung của cả dân tộc trong những ngày lễ lớn của Tổ quốc. Đó là kỷ niệm 25 năm thống nhất đất nước, Bắc Nam sum họp một nhà. Kỷ niệm ngày giỗ tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3, toàn dân già trẻ gái trai trên mọi miền quê hương đều hướng về cội nguồn dân tộc, hướng về đền Hùng tỉnh Phú Thọ, nơi di tích của đức Quốc tổ anh linh. Ngoài ra đồng bào cả nước cũng vừa được chứng kiến lễ Festival năm 2000 tại cố đô Huế, nơi lưu giữ những kiến trúc đặc thù của dân tộc, một trung tâm văn hóa đã được Liên Hiệp Quốc công nhận. Đây cũng là niềm hãnh diện của cả dân tộc, khiến mọi người hồi tưởng lại những công lao của các bậc tiền bối, để lòng mình càng thêm tự hào và trân trọng giữ gìn những di sản quí báu ấy cho muôn đời con cháu mai sau.

***


[1]. Tăng chi I, tr. 195     

[2]. Tăng chi I, tr. 42       

[3]. Tăng chi I, tr. 112     

[4]. Tăng chi I, tr. 114     

[5]. Tăng chi IIA, tr.135  

[6]. Tăng chi IIA, tr. 113 

[7]. Tăng chi IIA, tr. 185 

[8]. Tăng chi IIA, tr. 186.   

[9]. Tăng chi IIA, tr. 234.

[10]. Trung bộ II, tr. 482b

[11]. Trung bộ II, tr. 490  

[12]. Trung bộ II, 95 (kinh Bồ-đề Vương tử).   

[13]. Tăng chi, IIIB, tr. 115.             

http://www.daophatngaynay.com/vn/phat-phap/buoc-dau-hoc-phat/hanh-tri/12894-bien-biet-ta-chanh.html

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Bún Đạm Chay Nướng - Kim

Bun chay

*1 bịch đạm chay (mua ở chợ vn nào cũng có bán, nếu mua được sản phẩm làm tại Mỹ thì chắc ăn hơn, nếu không có tìm  mua sản phẩm của công ty Âu Lạc  made in vietnam cũng được, còn bất quá thì phải dùng sản phẩm Đài Loan tạm chắc cũng ok) mình mua ở chợ vn họ sản xuất đạm chay và bán ở đó luôn.

Dam Chay

*Ngâm đạm chay với nước ấm khoảng nửa tiếng,xong xả nước lạnh nhiều  lần cho khỏi thấy cái mùi khét của bột lâu ngày, vắt cho ráo nhưng đừng có vắt khô quá, để cho ráo nước.

*Ướp :
1/2 muỗng cà phê đường cát
1/3 muỗng cà phê muối
1/2 muỗng cà phê bột nấm chay
1 muỗng canh nước tương
1 muỗng canh dầu hào chay
2 muỗng canh dầu ăn
2 muỗng cà phê mè trắng rang vàng
1/2 muỗng cà phê tiêu
2 muỗng canh sả bằm
2 muỗng canh boa rô bằm nhuyễn
1 muỗng cà  phê mật ong

*Trộn đều để khoảng 30 phút

*Bún khô luộc chín, xả nước lạnh cho sạch rồi để ráo.

*Xiên  đạm chay vào cây ghim bằng tre, xếp vào tray, đem nướng.Để lò khoảng 400 độ , nướng  khoảng 10 phút, xong trở qua bên kia 10 phút nữa, đem ra.

Dam chay nuong

* Đặt một nồi nhỏ lên bếp lửa trung bình, cho dầu ăn và hành lá xanh thái nhỏ vào. Phi hành khoảng 2 phút  thấy thơm là được, để nguội.

*Cho các loại rau thơm, dưa leo,giá vào tô. Xếp bún lên  trên, rồi đạm chay nướng lên  trên cùng. Rắc  đậu phộng rang giã nhỏ lên trên đạm chay. Chan nước mắm chay và rưới một ít dầu hành, là có thể dùng được.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Chúc các bạn làm món bún đạm chay nướng thật ngon.

Kim

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Bảy hạng vợ ở đời

GN - Trong kinh Tăng chi bộ III, chương Bảy pháp, Đức Phật dạy trên thế gian có 7 hạng vợ, đó là: vợ như mẹ, vợ như bạn, vợ như em gái, vợ như người phục vụ trung thành, vợ như kẻ trộm cắp, vợ như bà chủ, vợ như kẻ sát nhân.

Hạng vợ như mẹ là người vợ thương yêu và quan tâm lo lắng cho chồng như một người mẹ thương yêu và quan tâm lo lắng cho con. Người vợ này thương yêu, chăm sóc cho chồng chu đáo từng bữa ăn giấc ngủ, từng tấm áo manh quần, khi bệnh tật ốm đau; chăm lo, gìn giữ, bảo vệ chồng cũng như những gì thuộc về chồng; giúp cho chồng những điều hay, bù đắp cho chồng những chỗ khiếm khuyết.

Trong xã hội ngày nay cũng còn rất nhiều người vợ như thế, họ là mẫu người phụ nữ truyền thống trước đây. Tuy những đức tính của người phụ nữ truyền thống rất cần thiết, song đó chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ để xây dựng hạnh phúc gia đình trong mọi thời đại. Một người vợ có khả năng xây dựng hạnh phúc hôn nhân, gia đình không chỉ là người tình mà còn là người bạn, đồng thời có cả những đức tính của một người mẹ, người em. Người vợ như mẹ hết lòng thương yêu chồng con, hy sinh cho chồng con nhưng không trông mong được đền đáp. Người vợ như mẹ luôn lấy niềm vui, hạnh phúc của chồng con làm hạnh phúc của mình.

PHAT HOC.jpg

Đức Phật giáo hóa nàng Sujata, người con dâu nhiều tật xấu của Trưởng giả Anathapindika

Kế đến, hạng vợ như bạn là người vợ hết lòng quý mến chồng, luôn tôn trọng chồng, không lấn lướt, không phân chia cao thấp với chồng, biết cư xử hợp lẽ như những người bạn với nhau. Người vợ như bạn biết quan tâm chia sẻ với chồng những tâm sự vui buồn, những khó khăn trong cuộc sống, trong công việc, sự nghiệp, đóng vai trò là người bạn tâm giao, là hồng nhan tri kỷ. Có nhiều gia đình, người vợ chỉ đóng vai trò là người tình mà thiếu vai trò người bạn đời, không có sự đổi trao tâm sự, chia sẻ những vui buồn ấm lạnh với chồng, không quan tâm đến tâm tư tình cảm của chồng, từ đó quan hệ vợ chồng không thắt chặt, thường xảy ra bế tắc, mất niềm vui và hạnh phúc.

Muốn quan hệ vợ chồng tốt đẹp, tình cảm gia đình nồng ấm, người vợ phải biết lắng nghe tâm sự của chồng, tìm hiểu tâm tư tình cảm của chồng, ước muốn của chồng, chia sẻ với chồng những khó khăn trong công việc (nếu như mình có thể) và trong cuộc sống. Ngược lại, nếu vợ chồng chỉ gặp nhau trên giường ngủ, thời gian khác thì việc ai nấy làm, chỉ biết có thú vui, sở thích cá nhân mình, chỉ biết có công việc, sự nghiệp của mình, chỉ chiều theo cá tính, bản năng của mình, tự tạo cho mình một thế giới riêng (chìm đắm trong cờ bạc; la cà đàn đúm với bạn bè, suốt ngày ngồi lê đôi mách nói chuyện thiên hạ; đua đòi, hưởng thụ; buông mình trong rượu bia, tiêu tiền vì những cảm giác ảo).

Có nhiều người vợ hoặc chồng vì đắm chìm trong thế giới ảo trên mạng internet mà hạnh phúc gia đình tan vỡ (nghiện game online, phim/truyện; mê chat, giao du, kết bạn với những người mà mình không hề biết mặt, không biết rõ về họ, hoặc chỉ biết rất mơ hồ, thậm chí biết không đúng sự thật vì họ chỉ bịa ra tên tuổi, thân phận của họ), để rồi ngày đêm cứ mơ tưởng về anh chàng đẹp trai, hấp dẫn hay cô nàng đẹp gái, quyến rũ với những lời có cánh trên mạng mà quên đi người chồng người vợ thật đang sống chung với mình.

Vợ chồng xem nhau như bạn cũng có nghĩa là xây dựng mối quan hệ trên tinh thần bình đẳng (không có chuyện chồng chúa vợ tôi, nam trọng nữ khinh hoặc ngược lại, vợ là số một, ngoài vợ không còn ai khác, nhất vợ nhì trời, vợ là bà hoàng - chồng là nô lệ v.v…). Vợ chồng bình đẳng như nhau có nghĩa là xem nhau như bạn bè, đối xử với nhau công bằng, không phân biệt tuổi tác, vai trò, vị thế trong xã hội, ai cũng được tôn trọng như nhau. Nhưng vợ chồng bình đẳng không có nghĩa là có quyền đối xử ngang nhiên tùy tiện, không cần tôn trọng nhau; bình đẳng không có nghĩa là có quyền có lời nói, hành vi khiếm nhã, không lịch sự, tế nhị, không cần kiêng nể người bạn đời của mình. 

Có nhiều người vợ nói chuyện với chồng như tát nước vào mặt, la ó quát tháo, mắng sa sả vào mặt chồng bất kể tốt xấu, đúng sai, như thế chẳng những làm mất tư cách của mình mà còn làm tổn thương chồng và khiến cho chồng mất thể diện (vì có cô vợ có cách hành xử thiếu hiểu biết, kém văn hóa, đạo đức như thế). Dù cho người vợ đúng và người chồng sai quấy thì người vợ cũng phải có cách cư xử khôn khéo, tế nhị, vừa giúp chồng nhận ra chỗ dở, chỗ khiếm khuyết, vừa giữ được tư cách của mình, chẳng những thế mà còn nâng cao phẩm hạnh bản thân và khiến cho chồng cảm phục, người bên ngoài trông vào cũng thấy ngưỡng mộ.

Hạng vợ như em gái là người vợ biết khiêm tốn nhún nhường, tôn trọng, kính nể chồng, thương yêu quý mến chồng như đứa em gái đối với anh trai. Đây là đức tính rất quan trọng trong việc xây đắp quan hệ vợ chồng bền vững. Có những người vợ có bản tính hung dữ, kiêu căng ngạo mạn, không biết cư xử, thường lấn lướt những ông chồng hiền, yếu đuối, nhu nhược, hoặc những người chồng kém thế hơn về trình độ học vấn, năng lực làm việc, tài sản, vai trò, vị thế trong xã hội. Những người vợ như thế không xem chồng như người anh, không xem chồng như người bạn, không xem chồng như người yêu.

Hạng vợ thứ tư là vợ như người phục vụ. Đặc điểm của những người phục vụ là ân cần, niềm nở và cần mẫn, chu đáo. Người vợ cũng cần có những đức tính này. Trong việc chăm sóc gia đình, chăm sóc chồng con cần tận tụy (hết lòng nhiệt tình, không làm qua loa, lấy lệ), làm mọi việc một cách sốt sắng và vui vẻ, siêng năng, chăm chỉ, chu đáo. Bởi người vợ và người chồng là hai thành viên chính trong gia đình, là rường cột để xây dựng ngôi nhà hạnh phúc. Chồng con, sự nghiệp gia đình là một phần cuộc sống của người vợ, cho nên người vợ cần hết lòng chăm nom, gìn giữ, vun đắp, sống vì gia đình cũng chính là vì bản thân mình.

Ngược lại với đức tính người vợ như người phục vụ là người vợ như kẻ cắp, người vợ như bà chủ.

Hạng vợ như kẻ cắp là người vợ luôn tiêu hoang, xài phí, làm tiêu tan sự nghiệp gia đình bởi những thói hư tật xấu: đua đòi xa xỉ, rượu bia, cờ bạc, ăn chơi hưởng thụ sa đà, không biết vun đắp, gìn giữ tài sản, sự nghiệp gia đình.

Hạng vợ như bà chủ là người vợ có tính gia trưởng, thường tỏ ra uy quyền, làm việc và cư xử với thái độ độc đoán, độc tài, thường hay lấn lướt chồng, xem chồng như người dưới tay, như kẻ ăn người ở, nắm hết mọi quyền hành và điều khiển chồng như con rối, khiến chồng không thể ngẩng mặt lên với thiên hạ, khiến chồng thất tín, bất nghĩa với người thân, bạn bè, đồng nghiệp. Những người vợ lười biếng, tham ăn uống hưởng thụ, suốt ngày không làm gì cả, ngồi lê đôi mách hoặc mê bạc bài, thường gắt gỏng la lối quát tháo chồng con, không quan tâm đến nỗi khổ tâm, khó nhọc của chồng, đây cũng xem là hạng vợ như bà chủ.

Ngoài ra còn một hạng vợ đáng sợ hơn nữa là vợ như kẻ sát nhân, kẻ gây rối. Họ là những người vợ có tâm địa xấu xa độc ác, không có tình yêu thương chồng con, bỏ rơi chồng con để chạy theo tiền tài, danh vọng, hoặc tình nhân, hay chạy theo những niềm vui, đam mê ích kỷ của mình, tự phá nát gia đình mình và gây đau khổ cho người khác (ví dụ như lấy chồng người, dụ dỗ trai tơ; nghiện bạc bài, tình dục, ma túy...). Báo chí gần đây đưa tin, có người vợ giết chồng để lấy tiền bảo hiểm trả nợ bạc bài; có người vợ thuê người vào trộm két sắt của chồng để lấy tiền trả nợ do làm ăn thua lỗ… Đây đều là hạng vợ bất lương, hay hạng vợ sát nhân như trong kinh nói.

Theo lời Phật dạy, người vợ mang lại hạnh phúc cho gia đình, cho những người thân người thương là người vợ có những đức tính của người mẹ, người bạn, người em gái, người phục vụ. Những người vợ có các đức tính đó có thể xem là người vợ hoàn hảo về nhân cách, phẩm hạnh và có khả năng mang lại hạnh phúc cho gia đình. Ngược lại những hạng vợ như kẻ trộm cắp, như bà chủ, như kẻ sát nhân thì không phải là những người vợ tốt và tự thân họ cũng khó có thể mang lại hạnh phúc cho chồng con.

Quan niệm về một người vợ hoàn hảo có lẽ không giống nhau ở các thời đại, ở các nền văn hóa, truyền thống đạo đức. Tuy nhiên những đức tính mà một người vợ cần có của người mẹ, người bạn, người em gái, người phục vụ như lời Phật dạy trong bài kinh này là điều rất cần thiết cho đời sống gia đình ở bất cứ thời đại nào, xã hội nào.

Minh Hạnh Đức

http://giacngo.vn/phathoc/2013/03/12/374401/

Tiếng đàn Piano nửa đêm

Một người bạn gởi cho tôi câu chuyện này, không rõ tác giả, một câu chuyện thực sự cảm động và hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa về cuộc sống. Bài viết gần như hoàn chỉnh tôi chỉ sửa một số lỗi chính tả và hiệu chỉnh lại một số đoạn cho rõ nghĩa hơn. Tựa do tôi đặt lại. ( NĐH).
----------
Một ngày anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt :

- Ông lại bán xe rồi hay sao mà đi tàu lên đây ?

Anh cúi đầu trả lời lí nhí trong sự hổ thẹn :

- Ừ thì bán rồi, vì cũng không có nhu cầu lắm !

Chị sầm mặt xuống :

- Ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không ngóc lên đầu lên được, hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy ?

Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều mà anh muốn nhờ chị. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể trả lời từ chối anh :

- Nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu đưa con bé về e sẽ chẳng còn được bình yên nữa !

Anh năn nỉ, nhưng thật sự là anh rất bối rối :

- Con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được, anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi, chỉ nửa năm hay vài ba tháng cũng được, em là phụ nữ em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh lại đón nó về.

Chị thở dài :

-Ông lúc nào cũng mang xui xẻo cho tôi, thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã, có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau.

Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi tiễn chị ra xe rồi thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg.

Anh và chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động xuất khẩu ở Đông Đức. Chị theo học Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây Đức. Chị tốt nghiệp đại học và về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.

Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Đức.

Vừa sang Đức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt, đa số ai cũng có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán, chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta. Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu, để có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời mới được.

Nên không dám mạo hiểm ra làm ăn

“Đồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…”, đó là câu nói của miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị có bé Hương.

Bé Hương sinh thiếu tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nữa năm mới được về nhà. Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh. Giông tố bắt đầu thực sự nổi lên từ đó. Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho ra hồn, thì hỏi làm được gì chứ. Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.

Bé Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh. Chị nói, ông buông tha cho tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý, vì anh biết chị nói đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ rằng buộc sẽ làm khổ chị.Bé Hương 3 tuổi mà chưa biết nói. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ.Biết vậy nên chị cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới.Thành phố Bremen là thành phố nhỏ.

Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố. Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.

Chị không phải là người vô tâm, nên thỉnh thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng con cho anh. Trong những dịp năm mới hay Noel, chị cũng có quà riêng cho con bé, nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến trực tiếp tặng quà cho con bé trước ngày lễ giáng sinh nữa.

Thấm thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ. Tuy chị không biết cụ thể thế nào. Nhưng chị biết dù con bé lớn lên trong tật nguyền hẩm hiu, nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà.

Chồng chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với chị vài tháng, với điều kiện trong thời gian con bé về sống chung với vợ chồng chị, anh không được ghé thăm. Chị cũng muốn thế, vì chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh.

Vợ chồng chị đã mua nhà. Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng. Chị đã xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được.

Đi học về, nó cứ thui thủi một mình trong phòng. Đứa em trai cùng mẹ của nó, mẹ nó, và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.

Em trai nó học thêm Piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn Piano rất đẹp để ở phòng khách.

Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó không dám đụng đến nữa. Có hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lỏm bỏm,.. đàn..đàn…klavia….con muốn… Anh thở dài và hát cho nó nghe.

Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần.

Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần đăng đẳng không nghe anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học. Chị không biết gì cứ mắng nó dở chứng.

Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn Piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi Piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn Piano, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng chị nên chị không quan tâm

Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì.

Chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: “…Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo…sống với cha êm như làn mây trắng…nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con….với tháng năm nhanh tựa gió..ôi cha già đi cha biết không…”.

Chị vòng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lòng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó. Nó chìa cho chị một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.

Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi, con biết bố con bị ung thư lâu chưa. Nó chìa bốn ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị hỏi, bốn tháng rồi hả. Nó gật đầu.

Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài.

Con bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu cho mẹ. Đại ý là nó diễn đạt rằng: -” Bố lên ở trên Thiên Đường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg, ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu, con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con..”
Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói, con gái ngoan của mẹ, ngày mai nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg….

-------------
Đoạn kết :

Tôi nghe người ta kể chuyện lại chuyện đó, khi đi dự một cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị. Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài hát “Người Cha Yêu Dấu” bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Đức. Quá kinh ngạc nên tôi cứ gạn hỏi mãi người trong ban tổ chức. Cuối cùng họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy.
--------------------------------------------------------------------------------------------
Lời phụ của Nguyễn Đại Hoàng : Câu chuyện đơn giản, không nhiều tình tiết, đã lấy đi nước mắt của nhiều người đọc. Tôi hình dung được cảnh người cha Việt Nam gầy ốm bệnh tật và đứa con gái tật nguyền tội nghiệp của anh trên đất khách quê người. Tôi như thấy được hình ảnh đứa con gái tưởng nhớ người cha - mà em biết đã mất rồi – qua tiếng đàn Piano. Tôi biết tiếng đàn ấy đau đớn biết bao. Tôi nghe được cả lời ca nghẹn ngào của em Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo…sống với cha êm như làn mây trắng…nhớ đến năm xưa còn bé,đêm đêm về cha hôn chúng con….với tháng năm nhanh tựa gió..ôi cha già đi cha biết không…”.

Em bé Việt Nam ở phương trời xa lạ kia ơi em thật là vĩ đại ! Tôi hãnh diện vì em biết bao !

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013

Ốc đảo tự thân - Chương 11: Lý Tưởng Cô Độc

ayya-khemaokPHƯƠNG PHÁP LUYỆN TÂM THANH TỊNH
Tác Giả: Ni Sư Ayya Khema - Việt Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
Dịch từ bản tiếng Anh: Be An Island The Buddhist Practice of Inner Peace
Wisdom Publications 1999
Nhà xuất bản PHƯƠNG ĐÔNG 2010

Hòa Nhập Vào Cuộc Sống

   Trong kinh Nipata, có bài giảng về Cái Sừng Con Tê Giác (Rhinoceros Horn), trong đó Đức Phật so sánh vị thánh sống một mình với chiếc sừng của các con tê giác.  Đức Phật đã tán thán cuộc sống một mình, và lập lại ở mỗi đoạn của bài kinh điệp khúc: "Chiếc sừng tê giác, lang thang một mình".

   Có hai loại cô độc, một về tâm (citta-viveka), và một thuộc về thân (kaya-viveka).  Ai cũng biết về sự cô đơn của thân.  Đó là khi ta ở một mình trong phòng hay trong hang, hoặc khi ta bảo với người thân ta cần đưọc ở một mình.  Nhiều người thường thích đưọc ở một mình trong khoảng thời gian ngắn.  Nhưng khi phải ở một mình lâu hơn, do ta khó hòa đồng với người khác hay sợ đối mặt với người khác vì ta không yêu thương họ, ta thường thấy cô đơn trong những trường hợp như vậy.

   Khi ta sống trong gia đình hay trong cộng đồng, ta khó đưọc yên thân một mình.  Nhưng mỗi ngày, ta cần tìm thời gian để đưọc có những giờ phút thật sự một mình.  Đó cũng là một loại tĩnh lặng.  Tâm tĩnh lặng góp phần không nhỏ vào sự tu tập của ta.  Nếu không có tâm tĩnh lặng, ta khó có thể biết ta cần phải thay đổi như thế nào khi quán sát nội tâm. 

   Tâm tĩnh lặng trước hết và quan trọng hơn hết là không đưọc tùy thuộc vào người khác để đưọc chấp nhận, được có một chỗ dựa, một liên hệ tình cảm nào đó.  Nhưng cũng không có nghĩa là ta phải quay lưng lại với mọi người, nó chỉ có nghĩa là ta cần đưọc độc lập về tinh thần. Tâm tĩnh lặng là tâm mạnh mẻ, vì người có tâm đó có thể giữ cho nó không xao động.  Người ấy có thể  sống một mình, quay trở vào nội tâm, mà vẫn có thể thương yêu người  khác.  Nếu tha nhân có tử tế với họ, cũng tốt.  Nếu ngược lại, cũng đưọc thôi.  Người có tâm tĩnh lặng dầu đang ở giữa đám đông cũng vẫn như đang ở một mình.  Dầu đám đông đó có hỗn loạn, hung dữ, ta vẫn có thể quay trở vào trong ta, vẫn có thể yêu thương họ mà không bị đám đông làm xao động.

   Chiếc sừng trên đầu con tê giác thẳng đứng, cứng chắc khó thể bẻ cong đưọc.  Tâm của ta có đưọc thế không?  Tâm tĩnh lặng giúp ta dứt bỏ đưọc những cuộc đàm thoại vô ích.  Những cuộc đàm thoại không có đề tài, cũng giống như hơi bốc lên từ lò nấu, rất tai hại đến sự phát triển tâm linh.  Khi chúng ta không thể giử hơi nóng trong các nồi nấu, thì thức ăn khó thể đưọc nấu chín.  Sự tu tập của ta cũng giống như việc giử cho hơi nóng không bị bốc hơi.  Nếu hơi nóng cứ bị tắt đi, tắt lại, thì quá trình hoạt động của nội tâm sẽ bị gián đoạn.  Tốt hơn hết là hãy giữ cho sức nóng đừng lan tỏa.  Có lẽ đó là điều chúng ta cần làm nhất.

  Đôi khi ta lo sợ "Người ta đang nói xấu tôi!"  Điều đó không quan trọng- chúng ta là chủ của nghiệp mình mà.  Nếu ai đó nói xấu ta, đó là nghiệp của họ.  Nhưng nếu ta nổi lòng sân, thì đó là nghiệp của ta.  Nếu còn quan tâm đến những điều người khác nói về mình, tức là ta còn tùy thuộc vào sự khen chê của người.  Nhưng ai khen chê ai đây?  Không lẽ là năm uẩn -sắc, thọ, tưởng, hành và thức- khen chê?  Hay tóc, hay răng hay da?  

   Nếu ta không thể tìm đưọc sự tĩnh lặng nơi nội tâm, nơi không có mảy may xao động nào, thì ta sẽ chẳng bao giờ thấy yên ổn, tự tại.  Không có ai, ngay cả Đức Phật, đều đưọc tất cả mọi người yêu mến.  Vì chính tự ta cũng đầy cấu uế, nên chúng ta cũng luôn đi bới tìm cái xấu của người.  Những thứ chẳng đáng để ta quan tâm.  Điều quan trọng hơn là cần phải có chánh niệm, tỉnh giác với những gì chúng ta đang làm, đang nghĩ, đang cảm thọ.  Nhưng điều đó dễ quên làm sao!  Lúc nào cũng có những công việc khác lôi kéo chúng ta như là chuyện trò với bè bạn, hay nhâm nhi bên tách trà.  Vì cuộc sống, vì thế giới là như thế đó, nên con người sống trong thế giới đó cũng luôn khổ đau.  Trái lại con đường đạo của Đức Phật dẫn dắt chúng ta ra khỏi thế giới đó để đến đưọc chân hạnh phúc.

  Đời sống tâm linh cô độc là một đời sống không phụ thuộc vào quá khứ và tương lai, chỉ có đứng thẳng người và bước tới một mình.  Nếu bám víu vào tương lai, ta sinh ra lo âu.  Còn đeo đuổi quá khứ, lại sinh ra tham ái hay sân hận.

    Sự đơn độc chỉ thực sự đưọc chấp nhận khi nội tâm ta đã đưọc an bình.  Nếu không sự cô đơn sẽ khiến chúng ta đi tìm cái để khỏa lấp nỗi trống không, lạc lỏng.  "Mọi người biến đâu hết cả rồi?  Làm sao tôi chịu nổi nếu không có bạn bè?  Tôi cần chia sẻ, tâm sự với ai đó".  Chánh niệm sẽ không để những tư tưởng như thế xảy ra trong đầu ta, vì chánh niệm giữ ta trong giờ phút hiện tại, nên ta chẳng thể nghĩ tới tương lai, hay quá khứ.  Chánh niệm khiến ta không lơi lỏng, giúp ta tránh bớt lổi lầm.  Càng có nhiều chánh niệm, tai nạn càng ít xảy ra.  Những lổi lầm vụn vặt sẽ biến mất trên con đường tâm linh.  Nhưng khi thiếu chánh niệm ta sẽ gây ra nhiều khổ đau cho chính mình, ta lại tìm kiếm ai đó để đổ lổi hay để giải sầu.

   Sự cô đơn lý tưởng có thể phát khởi khi ta một mình hay giữa đám đông mà vẫn giữ đưọc tâm bình lặng, không bị những phiền não của người khác ảnh hưởng đến mình.  Chúng ta có thể phản ứng tùy theo hoàn cảnh, nhưng không để bị xao động.  Tất cả chúng ta đều có đời sống nội tâm của riêng mình, nhưng ta chỉ nhận ra đưọc điều đó khi tâm dừng hết những lăng xăng, để ta có thể hướng vào bên trong.  Một khi ta đã nhìn ra đưọc những gì xảy ở bên trong ta, chắc chắn ta sẽ muốn thay đổi chúng.  Chỉ có bậc đại Giác Ngộ -một vị A-la-hán- mới có tâm hoàn toàn không cần phải chuyển hóa.  Tâm căng thẳng, thiếu tĩnh lặng sẽ khiến ta phải chạy tìm ai đó giải thoát ta ra khỏi khổ đau, đâu hay rằng chỉ có ta mới tự cứu đưọc bản thân.

  Tâm độc lập cũng khởi sinh đưọc những ý tưởng độc đáo, sâu sắc, trong khi tâm bám víu chỉ có những suy nghĩ theo ước lệ, vì loại tâm này rất cần đưọc khen tặng, chấp nhận.  Tâm trần tục chỉ có thể hiểu những điều tầm thường, không thể nào hiểu đưọc giáo lý sâu xa của Đức Phật.

   Giá trị đích thực của tâm độc lập là không đổi dời.  Như một cây đại thụ, nó chẳng thể lung lay, và cũng không cần dựa vào ai mới có thể đứng thẳng.  Nếu tâm thiếu sinh lực, thiếu sức sống độc lập của riêng mình, thì tâm đó cũng khó có sức mạnh, sự quyết tâm để hành theo Phật pháp.  Tâm tự tại, không sợ khổ đau, có thêm một lợi điểm nữa là trí nhớ tốt, nó có thể nhớ rất nhiều thứ.

   Mỗi ngày ta cần thực hành bằng cách dành thời gian cho riêng mình để soi rọi lại nội tâm, để suy gẫm.  Đọc sách báo, chuyện trò hay nghe ngóng đều là những hình thức của sự trao đổi, nhiều khi cũng cần thiết.  Nhưng thiết yếu là phải có thời gian để tự vấn mình: Điều gì đang xảy ra trong tôi?  Tôi đang suy nghĩ gì? Tốt hay xấu?  Tôi có thể tự tại với chính mình không?  Tôi có lo nghĩ về cái tôi của mình nhiều quá không?  Tôi có sống theo Phật pháp hay sống theo bản năng?

   Sức khỏe, của cải, tuổi trẻ không giúp ta thoát khỏi khổ đau.  Nhưng chúng có thể khéo che đậy khổ đau hơn.  Đến lúc tuổi già, sức yếu hay nghèo khó, ta mới thấy rõ hơn những đau khổ của kiếp con người.  Khi một mình, đó là lúc để ta tự tìm hiểu về mình.  Ta có thể  suy gẫm về những pháp đã đưọc nghe, để có thể thực hành những gì mà ta thấy có ý nghĩa nhất cho chính mình.  

   Một cộng đồng có những người hiểu Pháp là một nơi lý tưởng để tu tập.  Trong cộng đồng đó cũng có những sinh hoạt tập họp, cầu nguyện.  Nhưng tất cả phải do vì lòng từ bi, chứ không phải vì ta muốn chạy trốn những khổ đau.  Lần sau, khi bắt chuyện với ai, ta hãy trước hết tự hỏi: Tại sao tôi muốn có cuộc nói chuyện này?  Có thật sự cần thiết không hay chỉ vì tôi buồn, tôi muốn chạy trốn những vấn đề của mình?

  Trí tuệ sáng suốt là một yếu tố tinh thần cộng với chánh niệm sẽ giúp chúng ta biết đưọc mục đích và hướng đi của mình.  Chúng ta sẽ biết xét xem lời nói hành động của mình có đúng mục đích không, xét xem chúng ta đang sử dụng những phương tiện thiện xảo hay chúng ta đã đạt đưọc nguyện vọng ban đầu của mình.  Không có đường hướng, mục đích rõ ràng, sẽ sinh ra nói chuyện phiếm, tán gẫu.  Ngay trong khi ngồi thiền, tâm cũng 'tán gẫu', đó là vì tâm thiếu đưọc luyện tập.  Khi chúng ta thực hành với trí tuệ sáng suốt là chúng ta biết ngưng lại, quán sát về hoàn cảnh, dữ kiện trước khi bắt tay vào việc gì.  Điều đó có thể giúp ta có đưọc một thói quen thiện xảo, khó thể tìm thấy trên đời.

   Một khía cạnh nổi bật của giáo lý Đức Phật là sự dung hòa giữa sự hiểu biết rốt ráo và chánh niệm.  Đức Phật thường nói đến hai yếu tố này như một liều thuốc chống khổ đau, nhưng chúng ta cần thực tập bằng những việc làm nhỏ mọn hằng ngày như: học một điều mới, nhớ lại một câu pháp, học thuộc một câu kinh, có đưọc cái nhìn mới về chính mình; nhận thức đưọc những khía cạnh cuộc đời.  Một tâm như thế chắc chắn sẽ có thêm sức mạnh và sự tự tin.

   Buông bỏ là cách tốt nhất để có đưọc tự tin.  Ta biết rằng ta có thể tồn tại mà hầu như không cần đến bất cứ thứ gì, kể cả thức ăn, trong một khoảng thời gian nào đó.  Có lần Đức Phật đến một làng nơi đó không ai có lòng tin vào Đức Phật.  Không ai trong làng để ý đến Ngài, vì vậy Ngài không nhận đưọc thức cúng dường nào cả.  Đức Phật đi ra xa khỏi làng, xếp đệm cỏ, ngồi thiền.  Một đạo sư khác, thấy Đức Phật không nhận đưọc gì, nên an ủi Ngài: "Hẳn Ngài buồn lắm vì không có gì để ăn.  Cũng không có chỗ tốt để ngủ".  Đức Phật trả lời: "Ta sống bằng niềm vui.  Niềm vui nội tâm có thể giúp ta no nhiều ngày".

   Chúng ta cũng có thể sống không cần rất nhiều thứ, nếu chúng ta tự ý buông bỏ chúng.  Nếu ai đó muốn chiếm đoạt sở hữu của ta, ta sẽ chống trả, đó là khổ đau.  Nhưng khi chúng ta thực hành hạnh xả bỏ, tâm ta sẽ mạnh mẻ lên, không dễ bị xao động.  Lòng tự tin thực sự giúp ta dễ xả bỏ hơn.

   Đức Phật không khuyên chúng ta nên theo những hình thức khổ hạnh cực đoan.  Nhưng chúng ta có thể buông bỏ nhiều thứ -thí dụ thay vì buổi chiều ngồi nói chuyện phiếm, ta dùng thời gian đó để tĩnh tâm.  Khi làm đưọc những điều đó, tâm thấy hoan hỉ vì sự nỗ lực của mình.  Càng nhiều nỗ lực, càng có thêm nhiều niềm vui.

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-8065_5-50_6-1_17-543_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark