Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Sư bà Hải Triều Âm viên tịch, thọ 94 tuổi

GNO - Ni trưởng Thích nữ Hải Triều Âm, thường được tôn xưng là Sư bà Hải Triều Âm, đã an nhiên thu thần thị tịch vào lúc 11 giờ 56 phút ngày 24-6-Quý Tỵ (nhằm ngày 31-7-2013) tại chùa Dược Sư, thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, trụ thế 94 năm, 60 năm tuổi đạo. Theo thông tin của Giác Ngộ Online từ Bảo Lộc, lễ nhập kim quan sẽ được cử hành vào lúc 15 giờ hôm nay, 25-6-Quý Tỵ (nhằm ngày 1-8-2013) tại chùa Dược Sư.

suba-haitrieuamSư bà Hải Triều Âm (1920-2013)

Sư bà sinh năm 1920 tại tỉnh Hòa Bình, Bắc Việt. Vì mang trong người 2 dòng máu Pháp-Việt, nên ngoài tên tiếng Việt là Nguyễn Thị Ni, còn được đặt tên tiếng Pháp là Eugénie Catallan. Thân phụ là cụ ông Etienne Catallan. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Đắc.

Lấy xong bằng tốt nghiệp Diplôme D'étude Primaire Supérieur, Sư bà đi dạy học. Ngay khi còn tại gia, Sư bà đã biểu lộ lòng từ bi. Ngày ngày dạy học, ngoài thời giờ Sư bà vào các bệnh viện, trại mồ côi, dưỡng lão để giúp đỡ an ủi động viên những mảnh đời bất hạnh.

Cơ duyên được biết Phật pháp là do Sư cụ Thích Tuệ Nhuận. Bài pháp đầu tiên được nghe Sư cụ giảng tại chùa Quán Sứ là kinh Lăng Nghiêm, phẩm Quán Âm Quảng Trần và chương Đại Thế Chí niệm Phật. Lãnh hội được sự vi diệu của Phật pháp đem lại niềm an vui cho mọi người, Sư bà in những cuốn kinh nhỏ phát cho những Phật tử tới chùa tụng kinh hàng ngày.

Sư bà quy y với Đại lão HT.Thích Mật Ứng, được ngài đặt pháp danh là Hải Triều Âm.

Sư bà thành lập gia đình Phật tử, mở các hội trưởng lão, thanh thiếu niên, nhi đồng ở Hà Nội, Hải Phòng. Ngoài ra Sư bà còn viết báo cho tòa báo Bồ Đề của Sư cụ Thích Tuệ Nhuận, dưới bút hiệu là Cát Tường Lan. Các bài pháp rất thực tế, đưa Phật pháp vào tư tưởng thanh thiếu niên thời bấy giờ.

Năm 29 tuổi, thâm ngộ lẽ vô thường, dù phước thiện thế gian có hay đến đâu cũng không thể đưa đến giải thoát. Sư bà xuất gia với Đại lão HT.Thích Đức Nhuận, ở chùa Đồng Đắc, Hà Nội. Y chỉ và thọ giới với Sư cụ Tịnh Uyển, chùa Thanh Xuân, làng Phùng Khoang, Hà Nội.

Đến năm 1954, vâng lời Hòa thượng di cư vào Nam, Sư bà nhập chúng ở chùa Dược Sư, Gia Định, Sàigòn. Vừa lo tu học, vừa hầu mẹ già bị bệnh bán thân, vừa lãnh vịệc chuyên giảng dạy cho Phật tử. Sư bà tinh trì giới luật, nghe kinh Kim Cang lãnh ngộ được tông chỉ niệm Phật. Tu quán Tứ Niệm Xứ để khai tuệ giác tỉnh, sở đắc về bộ kinh Lăng Nghiêm để khai tri kiến Phật.

Sau khi thân mẫu qua đời, vì muốn báo hiếu công ơn mẹ, thấy rằng không gì bằng công đức tu hành, Sư bà nhập thất 5 năm ở chùa Vạn Đức, Thủ Đức, TP.HCM, chuyên tâm niệm Phật. Sau chuyển lên Phú An, Đức Trọng, Lâm Đồng nhập thất 7 năm tại ngôi tịnh thất nhỏ Linh Quang. Những mong nhập niệm Phật tam muội.

Nhưng từ hoài bi nguyện độ sanh không bỏ, tại đây Sư bà bắt đầu độ chúng, lúc đó chỉ có vài chục người. Đến nay đã thành lập 8 chùa Ni Liên, Linh Quang, Liên Hoa, Viên Thông, Hương Sen, Dược Sư, Lăng Nghiêm, Bát Nhã. Đủ các căn cơ, già trẻ, lớn bé cho đến người tàn tật, trẻ mồ côi Sư bà đều đưa tay tế độ, mong họ được kết duyên với Phật pháp. Phật tử quy y thì không biết bao nhiêu mà kể.

Đối với đại chúng, Sư bà khiêm cung, giản dị, từ hòa. Nhưng nghiêm khắc đưa đại chúng vào khuôn khổ giới luật, nội quy. Sửa trị những xấu ác, nhưng bao dung những lồi lầm chỉ cốt cho đại chúng thành những bậc pháp khí trong Phật pháp.

Sư bà một lòng lo cho đại chúng, từ tinh thần đến vật chất, hy sinh sức khỏe thời giờ, tận tình từ đời sống tạm thời đến rồi đi, tới đời sống đạo vị lợi ích vĩnh viễn trong kiếp tương lai. Suốt ngày trọn đêm không giờ phút nào Sư bà ngơi nghỉ trong bổn phận tự giác giác tha.

Lúc Sư bà ở chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, TP.HCM, học chúng đổ về học pháp rất nhiều. Sư bà đã biên soạn toát yếu lại những bộ kinh Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, luật Tỳ-kheo-ni v.v… lời văn giản dị, xác thực để học chúng dễ nắm được yếu chỉ của kinh luật. Mắt đeo kính, dưới ánh đèn dầu, Sư bà miệt mài đọc sách dịch kinh. Từng bộ kinh Hán văn dày cộm đầy những chữ với bộ óc tuổi già thật mỏi nhọc, Sư bà vẫn hết sức cố gắng cặm cụi dịch sang Việt ngữ để đàn hậu lai có sách học tập. Sư bà đã biên dịch, biên soạn, toát yếu gần 100 đầu sách…

Sư bà là tấm gương sáng của một bậc Trưởng lão Ni, hết lòng tôn kính Phật - Pháp - Tăng, gặp bất cứ hình tượng Phật nào Sư bà đều thành kính đảnh lễ. Tận tình học pháp, nghiên cứu pháp, truyền bá giáo pháp. Đối với Tăng Ni, Sư bà khiêm cung, kính trọng, luôn dạy hàng đệ tử suốt đời phải thực hành Bát kính pháp, sống lục hòa, trên kính dưới nhường, lấy Giới - Định - Tuệ làm sự nghiệp chính của mình, là nơi quy ngưỡng của nhiều người. 

H.Độ tổng hợp

http://giacngo.vn/lichsu/nhanvat/2013/08/01/33D003/

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Cơm chay thực dưỡng

thucduong 009

Rau củ xào nấm, xào  chỉ nêm muối, thật là nhẹ nhàng

thucduong 021

Cơm thực dưỡng ba món gồm món xào, kho và canh. Mâm cơm này dọn cho Thầy.

thucduong 025

Chả chay và bì chay ăn với bún hay mì Nhật và nước tương pha. Còn món kho ăn với canh chua chay

thucduong 027

Nước hạt chia với mật ong, theo thực dưỡng thì mình không uống lạnh, nên không cho nước đá vào thẳng trong nước chia, mà chỉ cho nước đá vòng vòng tô cho lành lạnh thôi.

thucduong 033

Mọi người ăn 1 tô cháo thực dưỡng  trước khi chia tay.

Buổi họp mặt này thật là thú vị vì mình vừa được học cách nấu thực dưỡng, vừa được nghe Thầy thuyết Pháp về nhân quả và vừa được niệm Phật chung với bạn đạo. Mọi người ra về với tâm hồn an vui nhẹ nhàng, cảm nhận được thân tâm mình vừa được tưới tẩm với những gì tinh khiết nhất. Cảm ơn Loan đã chia sẻ các món ăn thực dưỡng đến với mọi người.

Chúc các bạn có được nhiều ngày họp mặt thật ấn tượng.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Diệu Sương

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Mì Nhật với Tekka – Loan

thucduong 013

Loan mua mì Nhật ở chợ Hàn Quốc, luộc ra ăn với Tekka rất ngon. Mì luộc thì dễ, ai làm cũng được, nhưng Loan muốn giới thiệu đến các bạn 2 loại mì mà Loan thường dùng.

thucduong 012

Công thức Tekka có ở đây: http://www.amthucchay.org/2012/07/tekka-mon-ngon-bo-duong.html

thucduong 032

Chúc các bạn nấu được nhiều món thực dưỡng thật ngon.

Loan

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

Chương Trình Ánh Sáng Phật Pháp Kỳ 41 – ĐĐ Thích Minh Thành

Ngày 14/07/2013 nhằm (07/06 Quý Tỵ), hàng ngàn thiện nam tín nữ Phật tử đã về chùa Hoằng Pháp tham dự một ngày tu niệm Phật.

Vào 7h30, thiện nam tín nữ Phật tử vân tập về các khu vực giảng đường để tham dự Chương Trình Ánh Sáng Phật Pháp Kỳ 41 qua phần giải đáp của Đại đức Thích Minh Thành - giảng viên các trường Phật học tại TP. HCM, và phần nhận định của Thượng tọa Trụ trì Thích Chân Tính - chủ nhiệm chương trình.

Dưới đây là phần nội dung cụ thể các câu hỏi chương trình Ánh Sáng Phật Pháp Kỳ 41.

4

Câu 1: Kính bạch quý Thầy!

Trong quá trình hội nhập, xã hội hiện nay phát triển một cách rất đa dạng và phong phú, nhất là sự phát triển như vũ bão của nền khoa học công nghệ. Tuy nhiên mặt trái của sự phát triển ấy là những giá trị đạo đức của con người đang đứng trước nguy cơ suy thoái trầm trọng. Con người vì lợi nhuận bất chấp thủ đoạn để giết hại nhau, môi trường sống xung quanh tràn lan những tệ nạn và sự bất an. Trước những thực trạng trên thì đạo Phật có vai trò như thế nào để góp phần tạo nên một xã hội trong sạch, lành mạnh và bình yên. Kính mong quý Thầy hoan hỷ chỉ dạy!

Câu 2: Kính bạch quý Thầy!

Trong đời sống gia đình, tình cảm và nhất là trong công việc đôi khi chúng con rơi vào những trạng thái căng thẳng, bế tắc thậm chí nảy sinh những suy nghĩ tiêu cực. Những lúc như vậy chúng con cảm thấy chán nản và thất vọng, không có chút sinh lực nào để vượt qua những khó khăn, vất vả ấy. Mong quý Thầy chỉ dạy cho Phật tử chúng con một phương pháp thực tập để có được sự bình an, thảnh thơi trong cuộc sống đầy tất bật này. Chúng con xin biết ơn quý Thầy!

Câu 3: Kính bạch quý Thầy!

Con có cha mẹ già, nhưng ông bà lại không biết đến chùa, không tin Phật pháp. Mỗi khi nhắc đến chùa chiền là ông bà lại gạt phắt đi. Nay con muốn khuyên cho cha mẹ con biết đến Phật pháp để sau này an vui tuổi già cũng như để khỏi phải đau khổ. Nhưng con không biết phải khuyên và làm như thế nào để cha mẹ con tin và nghe theo. Kính mong quý Thầy chỉ bày cách thức cho con. Thành kính tri ân quý Thầy!

Sau khi chương trình kết thúc, thiện nam tín nữ Phật tử bước vào thời công phu niệm Phật, kinh hành.

Vào 15h, ngày tu kết thúc. Trong ngày tu, BTC đã phục vụ thiện nam tín nữ Phật tử về dự tu 2000 phần bánh mì dùng điểm tâm sáng, 27.000 phần ăn trưa và gửi tặng VCD Thọ trì tịnh giới, sổ tay Nội quy, nghi thức khóa tu Phật thất và tờ bướm Điều cần biết về chùa Hoằng Pháp.

Ốc đảo tự thân: Chương 18 – Đối với bản thân

ayya-khemaokỐC ĐẢO TỰ THÂN
PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TÂM THANH TỊNH
Tác Giả: Ni Sư Ayya Khema - Việt Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
Dịch từ bản tiếng Anh: Be An Island The Buddhist Practice of Inner Peace
Wisdom Publications 1999
Nhà xuất bản PHƯƠNG ĐÔNG 2010

Hoàn Thiện Con Đừơng Tu

Chương 18
Đối Với Bản Thân

   Kinh Từ Bi đã chỉ cho hành giả biết phải đối xử với tha nhân như thế nào -phải thương yêu họ như thương người thân.  Nhưng kinh này không dạy chúng ta phải đối với bản thân phải như thế nào.  Dĩ nhiên là ta phải đối với bản thân giống như ta đối với tha nhân.

   Vì tất cả chúng sanh ai cũng đều lo cho chính bản thân trước hết, nên điều quan trọng là ta cần phải biết vấn đề mình đang đối đầu là gì.  Với sự có mặt của tha nhân ở chung quanh, ta có ảo giác mình đang phải đối đầu với thế giới quanh ta.  Trên thực tế, chính là chúng ta luôn luôn phải đối mặt với tâm bất tịnh, hay thanh tịnh của mình.  Tất cả những ngoại cảnh diễn ra quanh ta chỉ là một chuỗi những chất xúc tác làm ngòi nổ cho các hành động của mình.

   Thế giới quanh ta có thể là các hoàn cảnh, kinh nghiệm hay con người mà ta tiếp xúc qua các giác quan.  Một trong những giác quan nhạy bén nhất là tâm với khả năng suy tưởng của nó.  Tiếc thay, tâm tưởng lại có khuynh hướng bay khỏi tầm kiểm soát của ta.  Chúng ta thường không để ý đến cái trước mặt mà nghĩ tưởng cái có thể là.  Chúng ta một là lo sợ cho tương lai, hay là mong mỏi những điều tốt lành nhất.  Sự mong muốn chỉ là ảo tưởng, còn nỗi sợ hãi chỉ là những lo lắng không đâu.  Cả hai đều dẫn đến phiền não, rắc rối.  Vì có mong muốn, nên ta sinh lòng sợ hãi -sợ hãi rằng những mong ước của ta sẽ không thành tựu.  Ngược lại vì sợ hãi, nên ta có ước mong -mong rằng nếu ta hành động khôn khéo thì những lo âu, sợ hãi của ta sẽ không biến thành hiện thực.  Hơn nữa, ta còn lo sợ rằng mình không đủ sức chịu đựng những gì sẽ xảy ra cho ta.

   Do đó ta tự cảm thấy lo lắng, bất an, những khổ thọ mà ta trốn tránh bằng nhiều hình thức như: ăn uống, tiêu khiển, chuyện trò, ngủ nghê, đọc báo, xem truyền hình, dùng điện thoại- bất cứ thứ gì trong tầm tay ta.  Nếu không tìm đưọc gì, ta trở nên trầm uất hay sân giận.

   Trên thực tế tất cả những biến thái này (papanca) đều do tính chất không thể kiểm soát của tâm.  Chúng ta để nó đi tán loạn, nghĩ về tương lai với hy vọng và âu lo, nhớ tưởng quá khứ với niềm hối tiếc, xót thương, thay vì tập trung tất cả chú tâm vào những gì đang xảy ra trước mắt.

   Chú tâm vào ngay giây phút hiện tại, đó là ý nghĩa của chánh niệm.   Khó có thể có đưọc tâm chánh niệm hoàn toàn vì tâm thường lăng xăng.  Nhưng nếu chúng ta hoàn toàn chú tâm ở từng phút giây, thì làm sao lăng xăng xuất hiện.  Nhưng chỉ tự nhắc nhở mình phải có chánh niệm không thôi thì chưa đủ.  Ta còn cần phải có các sự hỗ trợ khác.  Biết chấp nhận, biết đánh giá cao chính bản thân là một sự hỗ trợ tinh thần không thể thiếu.  Đó không phải là sự tự đề cao, liệt kê tất cả những kiến thức mình có.  Giữa hiểu biết đến hành động có thể cách nhau một khoảng xa.  Nhưng nếu ta có thể tự đánh giá đưọc những việc mình đã làm thì rất hữu ích.  Không có gì đáng kể ngoài các hành động của ta.  Những hiểu biết của ta như thế nào không thành vấn đề, nhưng những gì ta thực sự làm sẽ đem lại hậu quả.  Nếu cần phát triển cách đánh giá cao về mình, ta cần phải nhớ đến những nghiệp thiện của mình.

   Ngoài ra, ta cũng cần biết tự bằng lòng với chính mình, nếu không ta sẽ không bằng lòng với bất cứ điều gì, bất cứ ai hay ở đâu.  Trong hoàn cảnh hiện tại, ta đành chấp nhận còn phải bám víu vào 'cái tôi' này -bám víu vào cái vừa là thầy mình, mà cũng vừa là kẻ phá hoại mình.  Điều quan trọng nhất là ta phải tự bằng lòng với mình, để từ đó có thể nhận ra đưọc những bản tính thiện căn bản của nhân loại.  Điều này đã đưọc trình bày rất rõ trong kinh Từ Bi.  Kinh nói rằng chúng ta cần phải biết bằng lòng và dễ dàng chấp nhận.  Kinh nói đến mười lăm điều kiện có thể mang đến cho ta sự bình an.  Nếu chúng ta không thể tìm thấy những đặc tính này trong ta, thì sự bình an trong nội tâm không thể có đưọc.

   Biết an vui nghĩa là biết bằng lòng với những gì ta có, biết chấp nhận hình dáng, cách nói năng, cách sống, cách xử sự của mình.  Điều ấy không có nghĩa là ta sẽ không phải sửa đổi cho tốt hơn.  Nhưng nếu ta luôn mặc cảm về con người mình, thì sẽ ảnh hưởng đến thái độ, cách cư xử của chúng ta.  Người ta thường có ước muốn đưọc hơn cái mình có.  Càng bỏ đưọc các ước muốn này, ta càng bớt khổ.  Nhưng muốn thực hiện đưọc điều đó, ta cần phải biết bằng lòng với cái trước mắt, dầu cho đó không phải hoàn toàn như ý ta mong muốn.  Chúng ta thường có những mong mỏi, đòi hỏi nơi chính bản thân mình và ở tha nhân, dầu những điều đó không thực tế.  Vì ta thường quên vạn pháp đều vô thường.  Tất cả vạn vật đều luôn thay đổi.  Có những điều hôm qua hoàn toàn đúng, thì hôm nay lại sai.  Làm sao để sống an vui trong những hoàn cảnh ta cho là khó chấp nhận?  Trước nhất, ta phải xét hoàn cảnh đó cho kỹ càng?  Tại sao khó chấp nhận nó?  Nó sai sót ở đâu?  Không thoả mãn bản ngã chăng?  Không phải điều ta mong đợi chăng?  Một khi đã hiểu rõ tại sao một việc gì đó không toàn hảo, ta sẽ thấy nó quá nhỏ mọn, không đáng để tâm.

   Khi có những việc luôn tạo khổ đau trong ta, khiến ta không toại nguyện ước mơ, thì ta hãy tự nhủ: "Ta rồi cũng chết, ta không thể thắng đưọc sự chết".  Tại sao không luôn nghĩ về sự chết?  Quán tưởng về cái chết sẽ không mang đến cho ta sự bi thương hay trầm uất, nhưng nó mang ta đến gần hơn với thực tế.  Liệu chúng ta có cau có, bực bội khi biết mình chỉ còn mười phút nữa để sống?  Nếu thật sự ta chỉ còn sống đưọc thêm mười phút nữa, thì không ai trong chúng ta còn bực bội, khó chịu.  Có thể do ghét, ta sinh lòng sợ hãi, nhưng tại sao phải ghét điều ta không thể tránh khỏi?  Tại sao ta lại phải ghét cái điều chắc chắn sẽ xảy ra, vì nó sẽ xảy ra?  Đó là một trong muôn vàn cái vô minh của ta.  

   Bằng lòng cũng hàm chứa ý nghĩa chấp nhận, chịu ơn chính bản thân mình.  Khi tất cả mọi thứ quanh ta dường như đảo điên, hỗn loạn, chúng ta vẫn có thể quay về với nội tâm của sự thánh thiện, hoàn mỹ.  Nếu chúng ta không có những sự thuần khiết căn bản trong nội tâm, thì không có lý do gì để ta tiếp tục tu tập nữa.  Tuy nhiên, ta có thể nuôi dưỡng, vun trồng cho nội tâm trong sạch lớn mạnh thêm, và phát triển sự nhận thức về nó.  Bất cứ khi nào có khó khăn, sợ hãi, bất như ý hay khổ đau vì những ước muốn không thành tựu, chúng ta đều có thể quay vào bên trong ta, nơi an vui trú ngụ. 

  Chúng ta thường lầm tưởng rằng sự an vui của mình tùy thuộc vào hoàn cảnh hay con người nào đó.  Làm sao nó có thể tùy thuộc vào một điều gì đó bên ngoài chúng ta?  Nếu chúng ta muốn đưọc sự an vui thật sự, thì phải tùy thuộc vào những gì bên trong ta.  Như thế ta có thể phát khởi sự an vui liên tục.  Trái lại nếu phải tùy thuộc vào người hay hoàn cảnh để có đưọc sự an vui, thì ta có khác nào là nô lệ cho chúng.  Trong khi con đường đạo của Đức Phật là con đường dẫn tới tự do, giải thoát.

   Cũng giống như sự an vui, lòng biết ơn cũng giúp rất nhiều cho cuộc sống của chúng ta.  Lòng biết ơn không cần phải nhắm vào một người nào hay một điều gì đặc biệt.  Có thể là lòng biết ơn đối với những duyên nghiệp khiến cho các nỗ lực của ta đưọc thành tựu, hay đưọc có một cơ thể khá tốt.  Nó giúp cho ta không coi nhẹ những gì mình có đưọc .  Người càng giàu sang, càng coi những thứ họ có đưọc là chuyện đương nhiên.  Càng có sức khỏe hay nhiều may mắn, ta càng coi thường chúng.  Thái độ đó sẽ không giúp ta biết an vui, bằng lòng.  Chỉ có lòng biết ơn mới đem đến an vui.

   Nếu không có thái độ đúng, biết tự bằng lòng, biết để lòng thanh thản, không vướng bận, ta sẽ không tìm thấy tổ ấm dù ở bất cứ nơi nào.  Sự yên ổn, tổ ấm là ở nội tâm, chứ không phải ở bên ngoài.  Khi ta biết mở  lòng ra, để có lòng biết ơn, cảm nhận, bằng lòng với chính mình thì ta có thể tìm thấy tổ ấm, dù đang ở bất cứ nơi nào trên trái đất hay trong vũ trụ này.

   Một căn nhà chỉ là một nơi chốn với bốn bức tường bọc quanh.  Nhưng một căn nhà lý tưởng thì phải có sự ấm cúng, nhất là khi thế giới bên ngoài đầy lạnh giá.  Sự ấm cúng từ đâu ra, nếu không từ những trái tim chúng ta?  Đó là nơi ta cần tạo ra sự thoải mái, hạnh phúc, an bình khó nắm bắt mà ta luôn tìm kiếm.  Trái tim là trung tâm.  Khi mọi việc êm thuận, ta coi đó như là chuyện phải thế, nhưng khi gặp trở ngại, đối đầu với khó khăn, thì ta lại quay ra tìm sự giúp đỡ ở bên ngoài ta, đâu biết rằng chỉ có thể tìm đưọc lời giải nơi trái tim mình.  Nếu chúng ta đã tạo ra đưọc một nền tảng vững bền, ấm áp, đầy thương yêu ở nội tâm, thì ta luôn có thể nương tựa vào đó.

   Phải dựa vào người khác để có đưọc hạnh phúc, thì quá dại khờ; dựa vào họ để đưọc bảo vệ, chở che thì thật kỳ quặc.  Làm sao ta có thể dựa vào họ, khi chính họ cũng đang đi tìm hạnh phúc và sự chở che?  Chỉ có những người đã tìm đưọc kho tàng nội tại mới là người đã tìm đưọc mái ấm của mình.  Dựa vào chính hạnh phúc, sự chở che của bản thân, mới có thể giúp ta chịu đựng đưọc mọi thử thách, khó khăn trong đời.  Không có ai trong thế giới tránh khỏi khổ đau, nên khi đã có một mái ấm nội tâm, ta sẽ biết tìm về nơi đâu trong những khi căng thẳng.  Những căng thẳng này có thể ở mức độ nhẹ như khi ai đó đòi hỏi mình điều gì hay khi những mong ước của chúng ta không thành hiện thực.  Lúc đó ta bước vào mái ấm trái tim của mình, nơi ta sẽ tìm đưọc sự ấm áp, lòng biết ơn, cảm nhận và hoan hỷ.  Bằng cách là diệt bỏ tất cả mọi ý tưởng bất thiện, để chỉ còn có tư tưởng tốt đẹp, hữu ích, tích cực đọng lại.  Càng chất chứa nhiều tư tưởng ô uế, thì mái ấm trái tim ta càng hôi hám, ô nhiễm.  Mỗi khi ta hủy diệt đưọc một tư tưởng bất thiện, ta sẽ có thêm sức mạnh để bỏ nó lần sau, lần sau nữa.  Bằng cách ấy ta đã tự dọn sạch ngôi nhà tâm của mình.  Mỗi ngày ta đều quét phòng, quét ngõ.  Hãy quét dọn tâm ta mỗi ngày như thế!

   Mỗi khi ta dọn sạch cái gì -một khu vườn cỏ dại, một nhà bếp, quần áo dơ- ta cũng nhớ để dọn sạch tâm mình cùng lúc.  Khi tâm ta đã thanh tịnh, bền vững, ta sẽ tràn đầy tình thương cho chính mình, cho mọi người chung quanh.  Lúc đó ta không cần cố gắng để thương yêu tha nhân;  lòng thương đã thành quán tính do ta biết yêu thương chính bản thân mình.  Nhưng đó không có nghĩa là tự dễ dải với chính mình.  Mà chỉ là sự vun trồng tình yêu thương cho bản thân, để rồi ta có thể dễ dàng thương yêu người khác.

   Tha nhân cũng đưọc hưởng lợi lộc do sự vững chải của chúng ta.  Ta là cái neo, là hòn đá để cho người khác tựa vào.  Vì dầu cho có gì xảy ra, chúng ta vẫn luôn cứng rắn, không lung lay.

   Khi tình thương, sự vững chắc đầy trong tim, thì sự hành thiền của ta cũng đưọc tốt đẹp và cuộc đời ta cũng thay đổi.  Chúng ta sẽ cảm giác giống như trước đó cuộc sống của ta không trọn vẹn, nhưng giờ ta cảm thấy toàn vẹn hơn, giải thoát hơn.   Và cuộc sống thánh thiện đâu có gì hơn là được sống trọn vẹn, tràn đầy.

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-8067_5-50_6-1_17-543_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

Canh chua chay – Loan

thucduong 008

Canh chua chay rất khó để nấu theo lối thực dưỡng vì nó có vị ngọt và chua, rất là âm. Nhưng món này Loan nấu cho bớt âm bằng cách không dùng đường nhiều và thay thế giá bằng bắp cải. Để tạo vị chua, mình dầm quả mơ muối thay cho me.

thucduong 022

Nguyên liệu

  • Hầm rau củ lấy nước ngọt
  • Thơm xắt lát
  • Cà chua xắt múi
  • Đậu bắp xắt lát
  • Đậu hũ chiên
  • Bắp cải xắt cọng
  • Nhiều loại nấm xắt lát
  • Đường
  • Muối
  • Quả mơ muối (Salted Apricot, hay Umeboshi Pickle Plum)
  • Ngò om, quế xắt nhuyễn
  • Ớt xắt lát

Thực hiện

1. Bắc nồi nước lèo cho sôi, thả thơm, cà chua, nấm, bắp cải, đậu chiên vào.

2. Cho mơ muối, nêm đường, muối

3. Cho ngò, quế và ớt vào

4. Nhắc xuống bếp

Chúc các bạn nấu canh chua chay ngon.

Loan