Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

Tinh thần phụng sự

Ai cũng nói rằng: ‘Sống mà không có mục đích, lý tưởng thà chết còn hơn!’ Để làm cho đời sống của mình thêm ý nghĩa, mỗi người chúng ta cần có một mục đích để sống.  Có người sống vì con cái; có người sống cho gia đình, giòng họ; có người sống vì một lý tưởng, một chủ thuyết v.v…  Nói tóm lại, bất luận chúng ta sống như thế nào, nghèo hay giàu, cao hay thấp, mình cần phải có một mục đích, một lý tưởng để sống.  Bằng không, đời sống của mình thật là nhạt nhẽo, vô vị.  Mình sống như cỏ dại mọc hoang, không mục đích, không hướng đi. Thật là đáng tiếc, thật là uổng phí cả đời người!!

Đa số chúng ta ai cũng có lý tưởng giúp đời, giúp người khi mới bước chân vào đời. Lý tưởng này thật là vô giá, tuyệt vời.   Nhưng sau một thời gian theo đuổi chúng ta bị mắc kẹt vào con đường tìm kiếm hạnh phúc cá nhân và tinh thần phục vụ tha nhân bỗng nhiên bị bỏ rơi, quên lãng. Thảng hoặc, chúng ta có nhớ đến nhưng quá mệt mỏi vì đời sống cá nhân, gia đình bận rộn nên đành phải bỏ qua, buông xuôi.

Môi trường, hoàn cảnh và tâm thức của tập thể, cộng đồng cũng đóng một vai trò không nhỏ trong việc phát huy tinh thần phụng sự. Sống trong một đất nước còn nhiều thiếu thốn, nên bị vây quanh bởi những nhu cầu đời sống căn bản, như miếng cơm, manh áo nên không có thời gian nghĩ đến giúp đỡ kẻ khác, vì chính mình còn vật lộn qua ngày!  Ngược lại, sống trong những nước đầy đủ tiện nghi, như Hoa kỳ con người phần nhiều bị ảnh hưởng của văn hóa cá nhân, vị kỷ, chỉ lo cho nhu cầu đời sống bản thân, hạnh phúc cá nhân và gia đình, nên không có thời giờ để giúp đỡ kẻ khác.  Đôi lúc nhìn lại, mình cũng cố gắng đóng góp đôi chút cho cuộc đời nhưng cho vậy là đủ lắm rồi! Bản thân và gia đình mình mới là quan trọng hơn!

Do vì, chúng ta sống trong một thế giới mà tư tưởng vị kỷ cá nhân càng ngày càng được đề cao, qua những kỹ thuật tân tiến, vật chất sung túc, hưởng thụ thỏa thích. Xã hội tân tiến ngày càng đi vào con đường phục vụ lối sống cá nhân.  Cho nên tinh thần phụng sự cho tha nhân dần mất đi giá trị thật sự! Thỉnh thoảng, chúng ta nghe có một vài người hy sinh bản thân để phụng sự cho đời, cho người. Chúng ta tán thán ca tụng người đó như là một vị Bồ tát, nhưng riêng bản thân mình không thấy cần thiết phải noi gương theo!  Thậm chí trên con đường hành trì tu niệm, chúng ta cũng thích theo lối tu cá nhân, tránh xa những tập thể Tăng thân vì sợ bị phiền hà, va chạm!  'Tăng ly chúng tăng tàn, Hổ ly sơn hổ bại!' Tạm dịch: Một vị Tăng, hay Ni sẽ dễ bị tàn hoại nếu xa Tăng thân; Cọp sẽ dễ bị giết chết nếu cọp xuống núi!  Đó là những bài học mà tiền nhân chúng ta đã để lại qua những câu nói trên. Vậy, chúng ta nên sớm tạo cho mình một Tăng thân để phụng sự vì chỉ có sức mạnh của tập thể mới có thể lung lay nỗi cái bệnh dịch của tính vị kỷ, cá nhân đang lây lan nhanh chóng trên khắp thế giới của loài người.

Sống vì mình và tha nhân là một đời sống trọn vẹn và có ý nghĩa nhất!  Theo Phật dạy tinh thần phụng sự tha nhân không đòi hỏi chúng ta phải hy sinh hạnh phúc cá nhân. Vì cách sống tự độ và độ tha có thể cùng tiến hành song phương, không hề chống trái nhau. Chúng ta có thể vừa sống cho mình mà đồng thời biết chia xẻ, giúp đỡ người khác. Điều cốt lõi là chúng ta phải học cách duy trì và trưởng dưỡng tinh thần phụng sự, đừng để những bận rộn cá nhân cản trở mục đích sống cao thượng của mình.  Nói vậy, không có nghĩa là chúng ta phải bỏ rơi gia đình, con cái để phụng sự người khác. Nhưng chúng ta cần xếp lại những bận bịu không cần thiết để duy trì giá trị cho mục đích sống của mình.

Trên bình diện của sự thật quy ước (conventional truth), thế gian (worldly truth) chúng ta có thể hiểu tinh thần Vô ngã như là một phương cách phát huy hiểu biết, thương yêu người. Là một công cụ giúp triệt tiêu, giảm thiểu tính ích kỷ, cá nhân. Hễ mình có thể chăm sóc, thương yêu, giúp đỡ người thì bản Ngã của mình cũng sẽ nhỏ dần, teo lại.  Nhờ xã bỏ bớt những lo toan cho bản Ngã, mình cũng cảm thấy bớt khổ đau, phiền não. Trong Kinh Phật có dạy: ‘Ly sinh hỷ lạc,’ nghĩa là buông xã hạnh phúc ích kỷ cá nhân sẽ mang đến hạnh phúc và an lạc thật sự.  Và chính vì thế mà hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc chung được tăng cao và duy trì.

Cũng trong tinh thần đó,  Kinh Hạnh Nguyện Quán Thế Âm, hay Phổ Môn cho chúng ta thấy hình tượng của một vị Bồ tát nghìn tay, nghìn mắt hóa hiện ra khắp các thân để cứu giúp tha nhân.  Tất nhiên, với khả năng mỗi cá nhân chúng ta có thể giúp được người khác nhưng số lượng không nhiều! Nếu chúng ta tập họp lại thì việc độ tha sẽ thêm rộng lớn và lan tràn nhanh chóng hơn. Chính đức Bồ tát Quán thế âm cũng đang cần sự giúp đỡ của chúng ta. Thực ra, chúng ta có thể biến mình thành một Sứ Giả của đức Bồ tát Quán Thế Âm bằng cách ban rãi hiểu biết và thương yêu như đức Bồ tát thường làm. Đó chính là hình tượng trong Kinh Phổ môn đã mô tả.

Để duy trì một thế giới an bình và hạnh phúc chúng ta phải phát huy tinh thần phụng sự, hay lý tưởng Bồ tát.  Mỗi người chúng ta đóng góp phần nhỏ của mình để xóa đi những vết nhơ mà loài người (homo sapient), với danh nghĩa là sinh vật thông thái và văn minh nhất trên hành tinh, đã và đang tạo nên những thảm cảnh tương tàn lẫn nhau giữa con người với con người, đã và đang tiêu diệt và sát hại các sinh vật khác, đã và đang phá hoại sự sống trên trái đất, chốn dung thân duy nhất của mình v.v..!  Thay vào đó, bằng tình thương yêu, hiểu biết; bằng sự chung sống hài hòa; bằng sự bao dung, nhân nhượng của những con người có lương tri.  Nếu không, loài người chúng ta cũng sẽ đưa mình đến chỗ diệt vong giống như các sinh vật khác có trước chúng ta cả triệu năm như loài khủng long v.v..

Thế giới chúng ta đang sống càng ngày càng bị phân hóa, chia rẽ vì những lý tưởng cực đoan và chủ thuyết độc tài. Vì muốn được hưởng thụ dục lạc cá nhân nên chúng ta đã không ngần ngại hủy hoại Đất Mẹ, sinh môi. Chiến tranh, hận thù dựa vào những nhân danh chủ thuyết không tưởng, những lý tưởng cực đoan, một chiều. Nếu chúng ta biết học và sống như những đàn ong, đàn kiến thì thế giới chúng ta sẽ thêm hòa bình và hạnh phúc hơn vì mọi người đều biết xẻ chia, nhân nhượng, cùng làm việc cho một mục đích chung là phụng sự cho mọi người!

Đây chính là thông điệp mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni muốn truyền lại cho loài người chúng ta: ‘Phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật!’  Trong kinh A Hàm có nói về mục đích đản sinh của Phật Thích Ca: ‘Một chúng sinh duy nhất , một con người phi thường đã xuất hiện trên thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho muôn loài.’  Thế giới ngày nay ngày càng hướng về Đức Phật, vì Ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân loại.

Hãy bắt đầu quay về thắp sáng “Tinh Thần Phụng Sự, Lý Tưởng Bồ Tát” dù chỉ là một bước đầu khiêm tốn.  Có câu nói rằng:  'A journey of a thousand miles begins with a single step.' Tạm dịch: Hành trình ngàn dặm bắt đầu bằng một bước đi. Hôm nay chúng ta hãy ngồi lại cùng nhau để bắt đầu bước đi đó. Bước đi để hàn gắn những đổ vỡ, phá hoại của những thế lực Vô minh, mù quáng đang đưa thế giới đẹp tuyệt vời của chúng ta vào ngõ diệt vong. Chúng ta không chỉ làm việc này cho thế hệ của mình mà còn là trách nhiệm chung của mọi người đối với thế hệ tương lai, con cháu chúng ta.

310312043000-A-journey-of-a-thousand-miles-begins-with-a-singl-step

Hành trình ngàn dặm bắt đầu bằng một bước đi

San Jose, tháng 9, 2013

Thiện Ý

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-125_4-19208_5-50_6-9_17-478_14-1_15-1/tinh-than-phung-su.html

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

Khô chay chiên giòn từ củ dong ta – Tuệ Lan

Khô củ dong

Củ dong ta còn có tên gọi là củ mì tinh hay củ mình tinh. Hình dáng thuôn dài, màu trắng ngà, dân gian thường hay luộc để ăn như một món quà vặt giống như củ khoai mỳ, khoai lang hay bắp luộc vậy.

Củ dong

Cách đây hơn 3 năm trong một dịp đi phát gao cho bà con ở Tiền Giang TL được các sư cô trong chùa (quên mất tên rồi) đãi cơm chay có món này. TL ăn thấy rất ngon miệng và nhớ hoài không quên. Lâu lắm rồi, bẵng đi cũng không gặp củ dong ta. Hôm qua mẹ TL có mua được củ dong này cho TL mang từ VN qua Sing, lập tức ký ức món ngon cũ lại về. TL làm cho ông xã ăn thử cũng khen ngon quá trời. TL muốn chia sẻ với các bạn một món vừa ngon vừa dễ làm.

Củ dong ta lột vỏ, rửa sạch. Dùng chày đập dập từng củ cho dẹp lại. Ướp chút muối, bột nêm và tiêu. Nhớ ướp cho mẳn mặn chút cho giống khô mặn :). Ướp chừng 1 tiếng sau đó chiên giòn là được.

Món khô làm rất dễ nhưng ăn thì quá ư là hao cơm. Bữa nay trời mưa lành lạnh, TL chiên khô này, nấu nồi canh khoai mỡ ăn chung với dưa mắm chay... hết vèo một nồi cơm to.

Món đơn giản cũng làm người ta thấy hoan hỷ, đâu cần phải cao lương mỹ vị gì nhỉ.

Chúc mọi người ngon miệng.

Tuệ Lan

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Con đường mười nghiệp lành - HT. Thích Thanh Từ

thichthanhtu

Thử pháp tức thị Thập thiện nghiệp đạo. Hà đẳng vi thập? Vị năng vĩnh ly sát sanh, thâu đạo, tà hạnh, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham dục, sân nhuế, tà kiến.

Dịch:

Pháp này là con đường mười nghiệp lành. Những gì là mười? Là hằng lìa dứt sát sanh, trộm cướp, tà hạnh, vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, ỷ ngữ, tham dục, sân nhuế và tà kiến.

Giảng:

Ở đây giải thích mười điều lành là hằng lìa dứt nghiệp sát sanh, trộm cướp, tà hạnh, vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, ỷ ngữ, tham dục, sân nhuế và tà kiến. Chỉ kể tên mười điều lành, nghe hơi khó hiểu, sau đây tôi giảng từng điều cho quí vị hiểu.

1- Không sát sanh: Người cư sĩ tại gia mới tu, trước hết là không giết người. Chẳng những tự thân mình không giết người, mà miệng cũng không xúi bảo người giết và ý cũng không thích vui khi nghe người giết nhau. Quí vị thấy giữ một giới không giết người có dễ không? Thân không giết thì dễ rồi, miệng không bảo người giết cũng có thể giữ được. Nhưng ý không giết thì khó, vì nếu kẻ đó là người gây cho mình nhiều khổ đau, khi nghe họ chết thì mình cảm thấy vui. Đó là ý giết người. Thế nên ý giết người khó tránh. Người nào gây khổ đau cho mình, khi nghe họ bị hại, mình không khởi tâm vui mừng mà lòng cảm thấy thương xót, như thế mới thật là giữ giới không giết người. Đó là nấc thang thứ nhất của người tu. Tu như vậy cũng chưa đủ vì chỉ được quả đời sau không bị người giết. Thế nên phải tu thêm nữa, là đối với những con vật lớn như trâu, bò, heo, chó ... cũng không giết.

Giới không sát sanh bao hàm từ thô đến tế. Tùy khả năng của mỗi người, có người chỉ giữ được không giết người. Người khá hơn thì giữ thêm, không giết những con vật lớn như trâu, bò, heo, dê ... đó là tiến được một tầng nữa. Không giết người thì được quả báo đời sau sanh thân người, an ổn không bị người giết. Nếu giữ thêm không giết loài vật thì phước báo thêm lớn, có thể sanh lên cõi trời. Nhưng nghiệp sát vẫn còn đối với những vật nhỏ như gà, vịt, cá, tôm ... Vì vậy mà chưa dứt sạch mầm giết hại, nên vẫn còn sanh đi tử lại, để đền bù mạng sống của chúng sanh, chớ chưa thoát ly sanh tử. Chừng nào dứt hết nghiệp sát, cho đến con dế, con trùn, con muỗi ... vẫn một lòng thương xót không giết hại thì mới giữ được giới sát viên mãn. Chỗ này phải hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát mới thực hiện được. Quí vị thấy, chỉ một giới thôi mà hành động có khác. Do hành động giữ giới khác nên quả báo cũng khác. Một giới mà chúng ta có thể thành người, cũng một giới đó mà chúng ta có thể thành trời, cũng một giới đó mà chúng ta có thể thành A-la-hán thành Bồ-tát ... Như thế quí vị đừng nghĩ tôi thọ năm giới là có giữ giới sát rồi!

Mới nghe thì thấy giản dị dễ dàng, nhưng giữ cho trọn vẹn phải hàng La-hán, Bồ-tát ... mới giữ nổi. Các vị La-hán, Bồ-tát giữ giới sát chẳng những nơi thân nơi miệng, mà nơi ý nữa. Các Ngài không còn tâm niệm sát hại, từ người đến thú lớn như trâu, bò ... thú nhỏ như kiến, muỗi ... một lòng thương xót và tôn trọng mạng sống của chúng sanh. Nếu thấy người giết dù là loài vật nhỏ như cá, tôm ... cho đến trùn, kiến ... mà sanh lòng vui thích, là còn chủng tử sát hại nơi tâm niệm. Như vậy là giữ giới chưa trọn vẹn. Giữ giới trọn vẹn viên mãn chỉ có bậc Thánh mới giữ được. Còn hàng phàm phu chúng ta chỉ giữ được phần thô chớ phần tế chưa giữ nổi.

2- Không trộm cướp: Không trộm cướp cũng giữ từ thô đến tế. Hàng cư sĩ tại gia giữ giới không trộm cướp là không lấy của người khi chủ nó không cho. Cho đến tiền của, súc vật, cây cỏ ... chủ không cho mà tìm cách lừa gạt để thuộc về mình, đều gọi là trộm cướp.

3- Không tà hạnh: Người cư sĩ tại gia khi đã có gia đình chỉ một chồng một vợ, tình cảm không đổi thay, không lang chạ với những người nữ người nam khác. Còn người xuất gia là phải sống độc thân giữ phạm hạnh, không được dâm dục.

Không sát sanh, không trộm cướp, không tà hạnh là ba nghiệp lành của thân.

4- Không nói dối: Nói dối là chuyện có nói không, chuyện không nói có, nói trái với sự thật để mưu cầu quyền thế, danh lợi ... cho mình. Ngược lại nói đúng với sự thật là không nói dối. Trong giới không nói dối có những trường hợp châm chước, chẳng hạn nói trái với sự thật để cứu người cứu vật thì không phạm. Nói dối đó là vì lòng từ bi làm lợi ích cho người vật, chớ không phải vì lòng tham. Phật dạy không nói dối mà phải nói lời chân thật.

5- Không nói hai lưỡi: Nói hai lưỡi là nói chia lìa giữa hai người thân nhau. Ví dụ trong gia đình, hai anh em đang thuận hòa. Có người nói với người em: "Anh chú nói chú là người tham lam, háo danh, háo lợi ...". Rồi tới người anh nói: "Em chú nói chú là người điêu ngoa xảo trá ...". Hai anh em nghe nói thế, buồn lòng bất hòa nhau. Đó là nói hai lưỡi. Trong phạm vi gia đình xã hội thì gọi là nói hai lưỡi. Rộng đến quốc gia quốc tế dùng trong lãnh vực chánh trị thì gọi là nói ly gián. Phật dạy không nên nói hai lưỡi mà phải nói thuận hòa.

6- Không nói lời hung dữ: Là không nói lời ác như nói thô tục, mắng nhiếc, chửi bới, trù rủa người. Do ác khẩu đưa đến đánh đập chém giết lẫn nhau, gây đau khổ cho nhau từ gia đình đến xã hội. Vì vậy Phật dạy phải nói lời hiền thiện ôn hòa hằng xa lìa lời nói ác.

7- Không nói lời trau chuốt: Nói trau chuốt là nói bóng bẩy, ngoa mị không trung thực, nói cốt để lừa bịp người thủ lợi cho mình. Hoặc nói để mê hoặc người đi vào vòng tội lỗi. Phật dạy không nên nói trau chuốt, phải tránh xa, mà nên nói lời ngay thật.

Không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời hung dữ, không nói lời trau chuốt là bốn nghiệp lành của miệng, người tu theo Phật phải thực hành.

8- Không tham dục: Tham dục là ưa thích say mê thụ hưởng năm món dục lạc ở thế gian như tài, sắc, danh, thực, thùy (tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ). Ngũ dục tế hơn là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Nghĩa là những hình tướng nhan sắc đẹp mà người mê đắm gọi là tham sắc. Những âm thanh êm ái du dương, người tham đắm gọi là tham thanh. Những hương thơm, người tham đắm gọi là tham hương. Những vị ngon, ngọt, béo ..., người tham đắm gọi là tham vị. Những xúc chạm êm ái, người tham đắm gọi là tham xúc. Vậy năm dục thô hay tế mà người mê đắm gọi là tham dục.

Bảy pháp thiện trên tương đối dễ, chúng ta có thể làm được, tới pháp thiện thứ tám chúng ta thấy khó làm, vì nó vi tế thuộc về tâm. Cho nên đối với năm dục người nào không tham tài thì tham sắc, người nào không tham sắc thì tham danh, người nào không tham sắc không tham danh thì tham thực, thích ăn ngon, người nào không tham tài, sắc, danh, thực thì tham thùy, thích ngủ nghỉ, ngủ li bì. Trong năm món đó ít ai tránh khỏi, không kẹt cái này thì cũng kẹt cái kia. Mới nghe nói không tham thấy như dễ, vì thấy rằng tôi đâu có ăn cướp ăn trộm của ai, tôi giữ được. Nhưng đó chỉ là phần thô của tham tài, còn phần tế thì chưa giữ được. Thế nên giới không tham, chúng ta chỉ dứt được một hai điều, chớ chưa dứt sạch. Nếu dứt sạch là đã vào bậc Thánh. Người nào dứt được phần tham thô, còn phần tham tế cũng được làm người trời rồi. Song muốn tu tiến hơn nữa là phải bớt tham, bắt đầu từ một món cho đến năm món là chứng quả Thánh.

9- Không sân giận: Sân nhuế là nóng giận, đối với cảnh vừa ý sanh lòng vui thích đắm mê, đối với cảnh trái ý nghịch lòng sanh tâm nóng nảy tức giận. Sân thô thì miệng la lối mắng chửi tay đánh chân đá. Tế hơn thì miệng không nói, tay chân không hoạt động, nhưng sắc mặt đổi, trong lòng nóng nảy bực bội. Tế hơn nữa lòng không bực bội mà không vui. Đó là hiện tướng sân từ thô đến tế. Người tu hết sân là khi nào bị mắng chửi, hay bị đối xử tệ bạc, mà vẫn thản nhiên lòng không giận không buồn, lại khởi tâm thương cho người mê muội đang tạo tội lỗi. Tâm trạng này chỉ có Phật và Bồ-tát mới thực hiện được. Vậy không sân giận tu tới bao lâu mới hết? Tu đến khi nào người đời đối xử tệ bạc hay mắng chửi, lòng không buồn giận mà vẫn tươi cười như đang uống nước cam lồ, thì chừng đó mới xong. Muốn được như vậy, thì từ cái sân thô là miệng la, tay đánh, chân đá ... phải hạn chế từ từ, không cho tay chân hoạt động mỗi khi nổi nóng, rồi tới miệng không cho nói. Như vậy cấm từ tay, chân, miệng, rồi đến tâm không giận không buồn. Ai đối xử tệ bạc hay mắng chửi, vẫn vui cười, tu như thế mới tiến bộ. Không ai dứt một lần được mà phải dứt từ thô đến tế như đã nói.

10- Không tà kiến: Tà kiến là thấy lệch tin lầm. Sở dĩ thấy lệch tin lầm là do si mê, thiếu trí tuệ mà ra. Nếu kể thì nhiều vô số, ở đây tôi chỉ nêu những việc căn bản và những lỗi Phật tử thường vấp phải. Như trước tôi đã đề cập thường kiến, tức là tin mình có một linh hồn sau khi chết còn hoài không mất. Và đoạn kiến thì tin rằng thân này do tứ đại hợp thành, sau khi chết tứ đại rã tan không còn gì hết. Đó là hai kiến chấp rất nặng của ngoại đạo đưa đến những cuộc khẩu chiến sôi nổi ở Ấn Độ thời đức Phật.

Đây tôi không giải thích nữa, chỉ nói qua những tà kiến mà người Phật tử Việt Nam thường vấp phải. Như có nhiều người đau không uống thuốc, đi cầu Thánh mẫu, cầu cô cậu, cầu bà thủy, bà hỏa cho bùa phép uống, đeo để hết bệnh. Hoặc có cây sứ, cây đa bị mối hay kiến đục thành những lằn chữ hay hình người, thì cho đó là thần thánh hiện, rủ nhau đến gốc cây thắp hương vái lạy, nguyện cầu thần thánh ban phước cho được bình an tai qua nạn khỏi. Hoặc trên không trung có cụm mây hay đám khói trắng giống hình người, hình rồng thì cho là Phật, thánh hiện, rủ nhau ra chiêm ngưỡng đảnh lễ ... Đó là những hành động do tà kiến mê tín.

Trong kinh thường nói Phật tùy duyên hóa độ chúng sanh. Nếu chúng sanh là chư thiên thì Phật đản sanh ở cõi trời để hóa độ. Nếu chúng sanh là loài người thì Phật đản sanh ở cõi người để hóa độ. Nếu chúng sanh là loài rồng thì Phật giáng sanh ở cõi rồng để hóa độ ... Tóm lại, cần độ loài nào thì Phật giáng sanh vào loài đó để hóa độ. Ngài hành hạnh Bồ-tát sanh hoạt một cách bình thường, chớ không biến hiện những hình dáng kỳ lạ, làm những việc huyền bí để mê hoặc chúng sanh. Chúng sanh vốn đã si mê thì phải làm cho chúng sanh tỉnh sáng, dứt mê lầm, hết khổ đau, mới là từ bi. Nếu mê hoặc chúng sanh làm cho chúng sanh càng mê mờ thêm thì đâu phải hạnh từ bi của bậc hiền thánh!

Lại nữa, có nhiều người xin xăm, coi tay, bói quẻ ... đó là những nhận định sai lầm tầm thường mà đa số không bỏ được. Chúng ta đã biết Phật dạy do ba nghiệp lành mà sanh cõi người, cõi trời, cũng do ba nghiệp lành mà chứng quả Thanh văn, Bích chi, Bồ-tát, Phật. Ngược lại do ba nghiệp dữ mà rơi vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Nên nhớ không có quả báo tốt hay xấu nào do bói quẻ coi tay tạo ra. Biết sai lầm mà bỏ không được cũng hóa ra tà kiến mê tín. Nghe kinh thì cũng hiểu mà sợ thì vẫn sợ, nên vẫn khổ. Như nghe thầy bói nói năm này tháng này xấu, trong lòng cứ bồn chồn lo lắng, cúng kiếng vái lạy đủ thứ. Đó là chưa có chánh kiến bất động như Phật dạy ở trước.

Nếu người có chánh kiến bất động thì dù có gặp việc bức bách đến đâu, cũng vẫn bình thản không lo sợ. Chẳng hạn có ai nói ngày mai ông chết, chúng ta vẫn thản nhiên vì đã biết đời người ai cũng phải chết, hết duyên là thân phải rã, không rã sớm thì rã muộn, cầu cúng van vái rồi cũng phải chết nên không cầu. Nhược bằng ngày mai không chết thì thôi, không lo buồn sợ sệt. Nếu nghe nói mình sắp chết lo sợ, chạy đi coi thầy, cầu cúng van vái xin cho khỏi chết, là tà kiến. Ở trước, Phật dạy Long vương: "Ông phải nhớ chánh kiến bất động". Người có chánh kiến tức là có lòng tin sâu chánh pháp thì không động. Chúng ta vì lòng tin đối với chánh pháp chưa vững, nên hay bị lay động. Người hay động là thiếu niềm tin đối với pháp Phật thì sự tu hành của mình làm sao được lợi ích? Thế nên người Phật tử phải có "Chánh kiến bất động".

Trong kinh A-hàm có ghi: Trưởng giả Úc-già khi gặp Phật, được Phật dùng nhiều phương tiện giáo hóa khai ngộ. Sau khi ông nghe được lý Tứ đế, dứt trừ mọi nghi hoặc, đối với Phật, đối với pháp ông đặt trọn vẹn niềm tin, không lay chuyển. Không tìm cầu một tôn sư nào khác, cũng không kiếm tìm một pháp môn nào khác. Lòng tin Phật pháp của ông rất vững không động lay. Sau khi Phật Niết-bàn ông phát nguyện bố thí lớn, trong lúc ông bố thí thì tàu buôn của ông bị đắm. Chư Tỳ-kheo ngại sản nghiệp của ông bị tiêu tán hết, nên cử tôn giả A-nan đến khuyên ông nên dừng cuộc bố thí. Trưởng giả Úc-già trả lời, ông hành xả như thế dù cho của cải ông có khô cạn hết, cũng chỉ để làm tròn bổn nguyện của ông, giống y như bổn nguyện của vị Chuyển Luân Thánh Vương.

Quí Phật tử có vị nào đặt niềm tin sâu vững đối với pháp Phật như trưởng giả Úc-già không? Tin sâu như vậy mới là chánh kiến bất động. Ngày nay có nhiều Phật tử ham sống sợ chết, ham giàu sợ nghèo. Nếu có ai bày vẽ nên đến đền này miếu nọ, để cầu thần linh hộ mệnh được sống lâu, cầu thần linh ban phúc được giàu sang, thì họ không ngần ngại đến để cầu khẩn van vái. Vì vậy đạo Phật bị chê là mê tín. Pháp Phật dạy không có mê tín như thế, chỉ vì người mang danh Phật tử không có lòng tin bất động với chánh pháp, cứ chạy đến chỗ này van vái, chạy đến chỗ kia van xin, nên đạo Phật bị mang tiếng không tốt. Nếu người Phật tử chánh tín thì không bao giờ tin những sự việc xảy ra ngoài lý nhân quả. Mọi hiện tượng xảy ra đều do nhân quả, nhân tốt thì quả tốt, nhân xấu thì quả xấu. Nếu quả xấu thì can đảm chịu, nếu quả tốt thì vui vẻ nhận.

Đến đây tôi nói ra ngoài kinh Thập Thiện một chút để quí vị hiểu dễ tu. Trong luận Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất, Tổ Bồ-đề-đạt-ma có dạy tu Báo Oán Hạnh, tức là người tu phải thực hành hạnh trả thù. Quí vị nghe người tu mà trả thù có ngạc nhiên không ? Quí vị hãy nghĩ kỹ xem trả thù bằng cách nào? Ngài dạy khi gặp tai nạn đau khổ chúng ta phải nghĩ: Không phải tai nạn đau khổ ngẫu nhiên có, mà do đời trước mình tạo nghiệp ác, nên hôm nay quả thành tựu. Mình đã tạo nhân nay phải can đảm nhận quả, không than trời trách người. Khi hết quả xấu rồi thì hết khổ. Như vậy là Báo Oán Hạnh. Nếu tai họa tới mà than trời trách người, thì đâu có hết nợ, oán càng thêm oán. Ví dụ trước kia ông Bát ăn ở mích lòng ông Thập. Sau ông Thập có quyền thế, ông trả thù làm cho gia đình ông Bát tan nát khổ đau. Như vậy là hai lần oán thù, lần thứ nhất ông Thập oán thù ông Bát, lần thứ hai ông Bát oán thù ông Thập và bây giờ ông Bát đang chờ cơ hội trả thù ông Thập.

Xử với nhau như vậy có hết thù không ? -- Không. Thành ra trả thù mà trái lại gây thêm thù, oán thù chồng chất lên nhau không bao giờ hết. Tổ dạy "trả thù" là trả hết thù, không còn thù nữa, trả bằng cách quả đến thì can đảm chịu, không than không trách thì oán thù đau khổ không còn nữa. Đó là "trả thù" theo lý nhân quả. Người nào biết trả thù như thế thì oán thù nhất định sẽ hết. Không biết trả thù như vậy thì thù oán còn hoài, vì trả thù tức là gây thêm thù làm sao hết được? Tổ Đạt-ma dạy "trả thù" mà không gây oán nên thù không còn. Quí vị xét người biết đạo lý tu hành, có ai muốn nghiệp nợ mình còn hoài không? Ai cũng muốn hết nợ nên phải trả, nhớ trả mà đừng vay nữa. Tai họa đến, lại tới miếu này đền nọ, để van vái cầu cúng thì bao giờ mới hết nợ? Làm như thế là không dám trả, không dám trả là không hết nợ.

Tóm lại, Phật dạy chúng ta phải có chánh kiến, khi đã có chánh kiến rồi thì can đảm vui chịu mọi khổ đau xảy đến, không than không trách. Vì biết quả khổ đến là do mình tạo nhân xấu ở đời trước. Nếu trốn tránh hoặc than trách, hoặc vái lạy van xin cũng không hết tội, có khi lại thêm tội và tăng thêm tà kiến nữa là khác. Thế nên Tổ Bồ-đề-đạt-ma dạy tu hạnh Báo Oán để dứt thù dứt tội. Đó là hạnh thứ nhất.

Đến hạnh thứ hai là hạnh Tùy Duyên dạy chúng ta sanh ra đời được gặp những duyên tốt, làm ăn đúng thời, giàu có, nhiều tiền của, ăn sướng mặc đẹp sang cả. Phải nghĩ rằng: Do nghiệp lành đời trước mà mình được sanh chỗ tốt làm được việc tốt, nên mới được giàu sang sung sướng. Do duyên phước đời trước để lại ngày nay được hưởng thì không nên hưởng hết, nếu hưởng hết thì phải khổ, vì vậy phải tiếp tục gieo nhân lành luôn luôn không dừng. Đó là trường hợp thứ nhất. Đến trường hợp thứ hai là phải nghĩ ngày nay mình được giàu sang sung sướng là do duyên nghiệp lành đời trước nên không tự cao ngã mạn, không khinh khi người, vì không phải tài trí của mình. Trong không ngã mạn, ngoài lo làm điều tốt thì dễ tiến trên đường tu.

Tuy nhiên, cũng có người không thông lý nhân quả, làm ăn được phát đạt thì cho là may mắn, làm ăn bị thất bại thì cho là rủi ro. Đổ thừa may rủi là tà kiến. Chớ không biết do nghiệp lành đời trước nên nay mình nghĩ gì đúng nấy làm gì được nấy. Thế nên Phật nói do phước khiến cho con người hết khổ, muốn gì được nấy. Nghiệp ác làm cho người khổ, việc xảy ra thường trái ý mình, không được toại ý. Thế nên người có phước muốn gì được nấy, còn người vô phước thì muốn mà không được. Người không hiểu lý nhân quả đổ thừa cho may rủi là trốn trách nhiệm, tự cao ỷ tài khi làm được việc, oán trách khi thất bại. Thế nên người Phật tử chân chánh phải có nhận định đúng với đạo lý, lúc nào cũng biết không có việc gì ngẫu nhiên đến, mà do phước nghiệp đời trước, cho nên cố gắng làm lành để vun bồi thêm phước đức.

HT Thích Thanh Từ

(Trích "Kinh Thập Thiện Giảng Giải")

Nguồn: http://www.thuongchieu.net/

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

Dưa món khổ qua tốc hành – Diệu Minh

duamontochanh 040

Năm nay trúng mùa khổ qua, tháng 10 rồi mà trái còn lủng lẳng thấy mà mê! Khổ qua vừa cho vừa ăn cũng không sao hết nổi. Mẹ nảy ra sáng kiến làm dưa món tốc hành ăn với lẩu chay Hàn Quốc. Nghe qua thì hơi lạ nhưng mỗi lần vào nhà hàng Hàn Quốc thì họ đem ra cả 4, 5 món dưa muối chua khác nhau, như là dưa leo, củ cải, giá, kim chi, táo… để ăn kèm với món chính. Có người thấy vậy nói đừng nên làm dâu Hàn Quốc vì món ăn mà dọn ra kiểu này là cực lắm, tối ngày phải lo làm dưa món. Ăn xong lại phải rửa chén cho mà mệt nghỉ Smile. 

launamchay 011 Vẫn còn tiếp tục ra trái, khi nào lạnh trái còn non cũng sẽ làm dưa món luôn

Dưa món kiểu Mẹ làm dễ lắm. Mẹ nấu nước giấm balsamic với đường và nước tương theo tỉ lệ 1 giấm, 1 nước tương, 1 đường. Xong chờ cho nước nguội. Trong khi chờ Mẹ rửa khổ qua, xẻ bỏ ruột, xắt lát hơi dầy rồi cho vào keo. Nước tương giấm đường nguội rồi thì chế vô keo. Đậy nắp lại, lấy cái tô lật úp keo lại để phần khổ qua trên miệng keo thấm trước. Ngâm kiểu này 1 ngày là có ăn. Mẹ cũng làm như vậy với ớt xanh. Còn dưa leo muối chua thì mua dưa leo chua ngâm sẵn, xong về nhà đổ bỏ nước và chế nước tương giấm đường vào. Vậy là mình có được ba loại dưa món, tha hồ mà nhâm nhi.

duamontochanh 046

duamontochanh 045

duamontochanh 047 Dưa món khổ qua, dưa leo con và ớt xanh. Cả ba đều rất là giòn ngon

duamontochanh 021 Lẩu chay Hàn Quốc với thật nhiều nấm đinh

duamontochanh 024 Cơm nấu bằng nồi đá để ăn với lẩu, chưa quen cách nấu nên có khi có cơm cháy thật ngon, có khi bị khét

duamontochanh 007 Có khi ăn lẩu Hàn Quốc với bánh mì, DS mới khám pha tiệm bán bánh mì của người Nga, ngon lắm, ăn cũng ghiền luôn. Dạo này thật sự thành người quốc tế rồi!

launamchay 008 Món lẩu này lai kiểu Việt Nam có cà chua, không có ớt, nhúng với đậu bắp cũng rất là bắt cơm.

Chúc các bạn làm dưa món tốc hành thật ngon.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Ốc đảo tự thân: Chương 19 – Tình Thương Yêu

ayya-khemaokỐC ĐẢO TỰ THÂN
PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TÂM THANH TỊNH
Tác Giả: Ni Sư Ayya Khema - Việt Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
Dịch từ bản tiếng Anh: Be An Island The Buddhist Practice of Inner Peace
Wisdom Publications 1999
Nhà xuất bản PHƯƠNG ĐÔNG 2010

Hoàn Thiện Con Đường Tu

   Bạn có từng nghe nói đến tình thương yêu chăm sóc chưa?  Trẻ em sẽ không thể sống nổi, nếu thiếu tình thương yêu chăm sóc, cả chúng ta cũng thế.  Khi trẻ thiếu tình thương yêu chăm sóc, thì dù có đưọc nuôi bằng thực phẩm dinh dưỡng tuyệt hảo nhất, đưọc chữa trị bằng các loại thuốc hay nhất, cũng không thể lớn lên một cách bình thường.  Các mối liên hệ giữa con người với nhau cũng lụy tàn, nếu thiếu tình thường yêu.  Thiền cũng không là một ngoại lệ.  Thiền định khó thể phát triển nếu thiếu tình thương yêu chăm sóc.

   Trước hết, chúng ta cần phải thương yêu chăm sóc tâm mình.  Đừng để nó biến thành một chú bò hoang lạc vào thành phố, mà chỉ cần một hành động theo bản năng, không kiểm soát là sẽ tạo ra bao hỗn loạn.  Những hành động thiếu chánh niệm, dù rất nhỏ, cũng là biểu hiện của sự thiếu thốn lòng thương yêu.  Bất cứ khi nào ta không giữ đưọc các giới luật, dù là trong những điều tưởng như rất nhỏ nhặt, cũng chứng tỏ là ta đã không biết thương yêu chăm sóc chính bản thân.

   Các giới luật không phải tự nhiên mà đưọc bày ra.  Mỗi giới luật đều đưọc đặt ra vì một mục đích.  Mục đích chính của các giới luật là để giúp chúng ta khỏi chìm đắm trong những lo nghĩ tầm thường, để quay vào quán sát nội tâm mình.  Nếu ta coi thường một giới luật nào đó, thì công phu tu tập thiền của ta sẽ bị gián đoạn.  Dầu là một lỗi nhỏ trong giới luật cũng thế, cũng chứng tỏ là ta đã để tâm chạy theo tập khí không vâng lời, dễ dải của ta.  Tâm đó sẽ không phát triển đưọc tình thương yêu đối với tha nhân, do đó thiền định của người đó cũng sẽ bị ảnh hưởng.  Vì nếu suốt ngày, ta để tâm tán loạn, thì làm sao ta đòi hỏi nó phải biết chú tâm trên chiếu thiền?   Công phu tu tập thiền của ta chỉ có thể đem lại kết quả nếu như ta có thể làm chủ đưọc tâm, sử dụng tâm đúng đắn trong ngày, và có lòng tin yêu, chăm chút đến sự hành thiền của bản thân.   Khi ngồi xuống chiếu thiền, trong một tư thế đĩnh đạc, với một tấm lòng thương yêu đến với tất cả chúng sanh.

   Nghi thức hành thiền ở một số nơi là trước khi ngồi xuống, thiền sinh cúi lạy trước chiếu thiền của mình, cũng như người ngồi đối diện.  Cử chỉ lịch sự đó biểu lộ lòng cung kính và quan tâm đối với người và vật quanh mình, với tất cả những gì ở trong tầm quan sát của ta.  Chúng ta cũng có thể hướng những tư tưởng thương yêu, trân trọng đến với hơi thở của mình trước khi bắt đầu thiền quán.

   Tâm nghi hoặc, trách cứ, chống đối, lo âu hay xét đoán khó thể trụ trong thiền quán.  Không chỉ vì đã ngồi xuống chiếu thiền là chúng ta sẽ có thể chấm dứt, buông bỏ đưọc chúng.

   Chỉ có một phương cách duy nhất để ngồi thiền cho tốt là: Hãy dẹp bỏ những lo nghĩ tầm thường thế tục.  Thiền là một hoạt động tâm linh siêu việt, không thể chấp nhận các tâm tràn đầy thế tục.  Khi mà những lăng xăng, lo nghĩ về chuyện thế tục còn rù quến đưọc ta, còn đem đến cho ta lạc thú, thì ta không thể nào đạt đưọc tâm siêu việt.  Trong ngày, mỗi khi các tư tưởng thế tục khởi lên, ta cần quán sát xem chúng có bao giờ đem đến cho ta những niềm vui thường hằng không.   Nếu câu trả lời là không thì ta có thể dễ dàng buông bỏ chúng.

   Dầu làm bất cứ công việc gì, ta cũng có thể coi đó là một cách để thực hành thiền, nếu như ta làm với tâm hoàn toàn chánh niệm, chỉ chú tâm vào việc trước mắt, và buông bỏ tâm phân biệt, phán đoán.  Ta không cần phải xét xem công việc đó có cần thiết, có quan trọng không; có khó khăn, phức tạp, hay nhàm chán?  Điều duy nhất ta cần làm là chú tâm vào công việc trước mắt, và hãy thương yêu chăm sóc bản thân vì đã đang cố gắng hết sức mình.  Thí dụ như  công việc dọn dẹp vệ sinh.  Nếu chúng ta có thể làm công việc đó với sự cẩn trọng, chăm chút cũng như với tất cả những công việc hằng ngày khác, thì khi ngồi xuống chiếu thiền, ta cũng có thể hành thiền với cùng tấm lòng thương yêu, chăm chút đó.  Hai việc làm này thì có khác gì nhau?

   Tâm ta đã chất chứa bao thói quen từ nhiều kiếp.  Nếu ta có thể nhận biết đưọc chúng để thay thế những cái xấu, cái dở bằng những cái hay hơn, tốt hơn.  Chúng ta có thể làm đưọc bằng tình cảm thương yêu, phục vụ người khác.  Chúng ta có thể tự nhắc nhở mình nhớ đến những đau khổ của nhân loại, nhớ đến tính vô thường của vạn vật.  Nếu ta có thể luôn tưởng nhớ đến những lời dạy này trong tâm, tức là ta đã dẫn dắt tâm đi đúng hướng, giúp nó thoát ra khỏi đưọc những lối mòn xưa cũ.  

   Khi hành thiền, nếu ta có đưọc cảm giác thích thú thì công phu đó mới có kết quả, nếu không thì ta khó có cơ hội thành công.  Lòng nghi hoặc, chán ghét, hay thờ ơ, lãnh đạm, đều cản trở con đường ta đi.  Vì thế khi đã quyết thực hành thiền, ta cần phải chọn thái độ đúng đắn, với trí tuệ và lòng từ bi đối với bản thân.

   Tâm ấu trĩ, chưa trưởng thành thì cũng giống như một đứa trẻ.  Nó cần đưọc dẫn dắt cẩn thận.  Khi chúng ta còn chưa đạt đưọc giải thoát -Niết bàn- ta còn cần phải chăm sóc cái tâm mong manh, dễ vở của mình.  Chúng ta không nên ô nhiễm nó bằng lòng sân hận, chống báng, ghét bỏ, lo âu, sợ hãi, hay nghi hoặc; mà ta cần phải chấp nhận mọi khía cạnh cuộc đời, dầu đó là điều ta mong muốn hay không trông đợi.  Nếu ta không chăm sóc tâm kỹ lưởng, nó sẽ ngưng phát triển, trong khi ta tu tập, thực hành là chỉ để tâm đưọc phát triển, trưởng thành.  Tâm trưởng thành không tùy thuộc vào tuổi tác nhưng tùy thuộc vào sự tu tập, thực hành của ta, trên chiếu thiền cũng như ngoài đời (làm sao mà tách hai thứ ra đưọc chứ?)

   Nếu không dốc cả tâm trí vào chuyện mình đang làm, là ta chưa thực sự nỗ lực hết mình.  Không thể có chọn lựa.  Nếu ta chỉ chọn thứ này, và bỏ qua thứ khác, ta đã tạo nên sự chia rẽ.  Chúng ta không đưọc lựa chọn người để thương yêu, không đưọc lựa chọn giáo pháp để nhớ, hay giới luật để giữ.  Mỗi khi ta chống đối, bỏ qua hay lơ là với một ai, với điều gì đó, ta đã cản trở việc hành thiền của mình.  Phải thương yêu tất cả mọi người, phải chú tâm đến tất cả mọi công việc phải làm, phải giữ tất cả mọi giới luật.

   Nếu ta không thể dốc tâm vào một việc, một cách tuyệt đối,thì tâm ta chỉ có thể hành động nửa vời.  Có thể nó chỉ chịu đưọc hai mươi phút hành thiền đầu tiên, mà chểnh mảng với bốn mươi phút còn lại.  Có thể nó chỉ thích chủ tâm vào hơi thở, và không thể chịu đưọc khi có ai gây ra tiếng động.

   Một buổi hành thiền tốt đẹp là một khích lệ, nếu không muốn nói là động lực: "Nếu tôi có thể sống tốt đẹp trong ngày, tôi sẽ hành thiền tốt tối nay".  Không ai biết tâm hoạt động như thế nào.  Chỉ biết là nó diễn tiến đúng như thế.  Tâm là dụng cụ duy nhất khiến mọi thứ đều là điều có thể, từ những ước muốn, hành động thấp hèn nhất, đến những ý thức cao cả nhất.  Ta cần phải nhớ thế đểâ thương yêu, chấp nhận tất cả những gì xảy ra như một phần trong quá trình tu tập thực hành.

   Nếu chúng ta thích thở, thì ta dễ dàng trụ vào đó.  Những gì ta thích có khả năng làm sức hút.  Những gì ta không màng đến, không tạo ra hứng thú gì trong ta.  Vì thế ta có thể quan tâm đến hơi thở của mình vì đó là chủ đề quán tưởng của ta hay chủ tâm đến tọa cụ vì nó nâng đở ta khi ta ngồi thiền.  Chúng ta cũng cần để tâm, thương yêu người ngồi thiền quanh ta, và thọ ơn họ.  Tình thương yêu, chăm chút có thể khiến mọi thứ đều đơm hoa kết quả, từ những hạt mầm nhỏ bé đến tâm chứng đạt thiền quả rộng lớn, hoàn toàn buông bỏ ngã chấp.

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-8067_5-50_6-1_17-543_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

Lẩu chay Hàn Quốc – Diệu Minh

duamontochanh 021

Món này Mẹ DS nấu nhiều lần lắm rồi, hôm nay DS hỏi kỹ lắm mới dám đăng lên đây.  Màu đỏ là do ớt bột Hàn Quốc, thấy vậy chứ không có cay. Món này ăn với cơm cũng nấu bằng nồi đá, rất là ngon. Nếu muốn ăn như lẩu của mình thì mình cho lên lò điện nhỏ, vừa ăn vừa nhúng với các loại rau cải xanh.

Nguyên liệu cho 2 phần ăn

  • 6 tai nấm đông cô khô, ngâm nước muối cho mềm, rửa sạch, xắt lát
  • 6 tai nấm trắng, ngâm nước muối, rửa sạch, xắt lát
  • 1 nắm tay nấm đinh, ngâm nước muối, rửa sạch, xé ra cho nhỏ, để vô sau cùng
  • 2 củ cà rốt, gọt vỏ, rửa sạch, xắt lát hơi dầy
  • 1 chén bắp cải xắt cọng lớn hay vài lá cải thảo xắt miếng
  • 1 hộp đậu hũ non, xắt miếng lớn
  • 3 muỗng cà phê ớt bột Hàn Quốc

duamontochanh 012

  • Dầu ăn
  • Đường
  • Muối

Cách làm

1. Bắt dầu nóng vào chảo, cho vài lát gừng và tai vị vào cho thơm, cho nấm đông cô vào chiên vàng

2. Chắt dầu ra bớt, cho nấm đông cô đã chiên và nấm trắng vào xào với đường, muối cho thấm gia vị

3. Cho nước vào nồi, cho nấm đông cô và nấm trắng đã xào vào, hầm cho mềm và ra nước ngọt khoảng 30 phút

4, Cho ớt bột, cà rốt, bắp cải… vào nồi nước trên nấu khoảng 5 phút

5. Nêm đường, muối cho vừa ăn

6. Cho đậu hũ vào nồi đá, chế nước lèo đã nấu ở trên, nấu sôi, cho nấm đinh vào, nêm nếm lại cho vừa ăn

Món này ăn với cơm nóng và các loại dưa chua của Hàn Quốc như kim chi, củ cải muối, dưa giá, dưa leo muối chua…

lauchay 007

lauchay 006

Cơm nấu bằng nồi đá, có cơm cháy mà DS cạy ăn trước hết trơn rồi Smile

Chúc các bạn nấu món lẩu chay thật ngon.

Nam Mô  A Di Đà Phật.

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

Đạm chay xào sả ớt - Kim

Dam chay xao sa ot

Đạm lát chay mua về ngâm nước cho mềm xé miếng vừa ăn.

Sả băm nhuyễn

Gia vị: dầu ăn, tiêu, ớt, đường , muối, nước tương, bột nêm chay

Cách làm:

Cho dầu ăn vào chảo nhỏ, tiếp cho sả vào xào cho thơm. Cho đạm chay vào xào cho khô lại. Thêm ớt, bột nêm, muối, tiêu, nước tương.

Nêm nếm cho vừa ăn. Món này ăn với cơm trắng rất ngon.

Chúc các bạn ngon miệng.

Kim