Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

Sinh tố bơ, chuối và cải xoăn – Kenny Chung

Smoothie

  • 1 quả bơ ( Avocado) tách đôi bỏ hạt, lấy muỗng nạo lấy phần thịt quả.
  • 2 trái chuối bóc vỏ, cắt miếng nhỏ.
  • 2 lá cải xoăn (Kale), cắt khúc

Kale,Banana,Avocado smoothie Cho 1 cup ice water, hoặc 1 cup sữa cũng được vô máy xay, xong cho cải xoăn, chuối vô máy xay trước, xay khoảng 30 giây. Xong bỏ bơ đã nạo vào, cho 1 muỗng cà phê đường cát trắng, 1 muỗng cà phê sữa ông thọ vô (nếu thích) xay khoảng 1 phút, đến khi thành hỗn hợp sánh màu xanh dịu nhẹ là được. Đổ sinh tố ra ly uống liền.

Chúc các bạn ngon miệng!

IMG_1209

IMG_1210

Và đây là chef cook, looks so professional and so cute!!!

kaledrink

I made this drink today and it was delicious. Kenny, thank you so much for the recipe – DS

Kenny Chung

Niệm & niệm Phật

GN - Trong Phật giáo, niệm là một thuộc tính của tâm, gọi là tâm sở pháp; nó được xếp vào một trong năm loại tâm sở biệt cảnh. Biệt cảnh có nghĩa là nó chỉ xuất hiện trong những trường hợp và cảnh vực sai biệt, duyên vào từng đối tượng cụ thể mà sanh khởi.

phatadida

Niệm, tiếng Phạn là smṛti, có nghĩa là nhớ. Theo Duy thức học, niệm là tác dụng của tâm nhằm ghi nhớ rõ ràng, không để quên mất một đối tượng nào đó. Thông thường, chúng ta hay nói là hoài niệm, tức là chỉ cho cái tâm nhớ về cảnh giới quá khứ, nhớ những chuyện đã qua.

Phẩm loại túc luận nói “niệm là rõ tâm, nhớ tính”. Câu-xá luận nói “niệm là nhớ rõ đối tượng không quên”. Đại thừa quảng ngũ uẩn luận ghi: “Niệm là gì? Tự tính của nó là nhớ rõ không quên mất của tâm đối với việc đã từng quen thuộc. Việc đã từng quen thuộc nghĩa là những việc đã từng được huân tập (đã từng trải qua trước kia). Nghiệp dụng của nó là làm sở y cho sự không tán loạn (sở y cho định)”.

Thành duy thức luận cũng định nghĩa: “Niệm là gì? Tự tính của nó là sự ghi nhớ rõ ràng không quên mất của tâm đối với cảnh đã từng quen thuộc. Nghiệp dụng của nó là làm sở y cho định. Tức là thường xuyên ghi nhớ cảnh đã từng được tiếp nhận không để cho quên mất thì có thể dẫn đến định. Đối với cảnh mà thể và loại1 của nó chưa hề được tiếp nhận, niệm hoàn toàn không phát khởi. Giả sử đối tượng đã từng được tiếp nhận nhưng không được ghi nhận rõ ràng, niệm cũng không phát sanh”.

Định nghĩa này cho chúng ta thấy rõ rằng, muốn “niệm” phải có cảnh, và cảnh này phải là cảnh đã từng tiếp nhận, từng huân tập, từng ghi nhớ dấu ấn trong tâm, tức là những cảnh đã được huân tập thành chủng tử. Như vậy, niệm là nhớ những cảnh ở trong tâm, hay nói cách khác là nhớ những hạt giống đã gieo trồng trong tâm.

Cảnh có hai loại. Một là thể cảnh, là đối tượng mà mình có thể nhận thức trực tiếp, mắt thấy, tai nghe, gọi là thể cảnh (cảnh hiển bày trước mắt). Hai là loại cảnh, là đối tượng được nhận thức do loại suy, tức là dựa vào những hình ảnh, những cảnh giới… được miêu tả trong kinh sách mà tưởng tượng ra những hình ảnh, những cảnh giới giống như đã miêu tả, gọi là loại cảnh. Đối với cả hai cảnh này, tâm phải từng tiếp nhận, từng huân tập, từng huấn luyện sao cho đối tượng in dấu trong tâm thức rõ ràng, trở thành chủng tử, thành hạt giống nằm ở trong tâm thức thì chúng ta mới có thể “niệm” nó được. Bởi vì, như luận đã nói, “đối tượng đã từng được tiếp nhận nhưng không được ghi nhận rõ ràng, niệm cũng không phát sanh”, huống chi là đối tượng mà mình chưa từng tiếp nhận, chưa từng huân tập làm sao “niệm” (nhớ) cho được?!

Nhưng những điều mình nhớ đa phần là vọng tưởng. Bởi những nỗi nhớ đó làm cho mình đánh mất hiện tại, nó kéo mình về quá khứ, để vui, để buồn với những chuyện đã qua… Mà cuộc sống hiện thực là bây giờ và ở đây, ngay trong giờ phút hiện tại. Cho nên, nhớ về quá khứ hay mơ tưởng về tương lai đều không giúp gì được cho mình hết. Nếu mình biết sống trong hiện tại cho thật hạnh phúc, cho thật chánh niệm và tỉnh giác thì mình biết quá khứ hay tương lai đều đang có mặt trong từng phút giây hiện tại, mình không cần phải nhớ hay mơ ước gì hết. Cho nên, niệm ở trong đạo Phật là nhớ những gì đưa mình tới an lạc và giải thoát mà thôi, còn những gì làm cho mình mệt, mình khổ, mình phiền não, thì mình không cần phải nhớ.

Những cái mình nhớ mà đưa tới an lạc giải thoát, đưa tới ly dục, ly bất thiện pháp, thì Phật chỉ cho mình niệm. Như Phật dạy mình nhớ hơi thở. Thực tập theo dõi và đếm hơi thở ra vào gọi là quán sổ tức, hay còn gọi là an ban niệm; mình nhớ Phật, nhớ Pháp, nhớ Tăng, nhớ bố thí, nhớ giữ Giới, nhớ cõi Thiên thì gọi là lục niệm… Còn nhiều thứ Đức Phật chỉ dạy mình nhớ, để mình thoát khổ, như nhớ Tứ niệm xứ, nhớ Tứ vô lượng tâm…Khi mình nhớ những cái đó gọi là niệm. Niệm như vậy là một pháp môn tu tập.

Muốn niệm được thành công thì mình phải có ước muốn, tức là phải làm cho tâm sở dục phát sanh. Tâm sở dục là gì? Câu-xá luận định nghĩa: “Đặc tính của nó là hy vọng ở nơi đối tượng đáng yêu thích. Đối tượng đáng được yêu thích là những gì muốn thấy, muốn nghe… thì hy vọng, mong cầu. Nghiệp dụng của nó là sở y cho tinh thần”.

Chẳng hạn, mình muốn niệm Phật thành công thì mình phải có ước muốn, ưa thích Tịnh độ, điều mà trong kinh Vô lượng thọ gọi là “tín nhạo”: “nhược hữu chúng sanh, dục sanh ngã quốc, chí tâm tín nhạo” (nếu có chúng sanh nào ưa muốn được vãng sanh về cõi nước của Ta, thì hãy hết lòng tin tưởng và ưa thích). Hết lòng tin tưởng và ưa thích không phải là điều kiện của Phật A-di-đà đưa ra để ai tin tưởng và ưa thích Ngài thì Ngài tiếp dẫn về thế giới Cực lạc; mà đó là điều kiện để mình có thể tu Pháp môn Niệm Phật được. Tâm mình có tin tưởng, ước muốn và ưa thích rồi thì nó mới có thể ghi dấu lên tâm thức, tức làm cho đối tượng thành chủng tử, mà thuật ngữ gọi là thắng giải.

Thắng giải là, Câu-xá luận định nghĩa: “Đặc tính của nó là ghi dấu ấn trên đối tượng đã được xác định, nhận thức đúng như bản chất của nó. Nói ‘xác định’ tức là duy trì dấu ấn trên sự thể đã được xác định. Nghiệp dụng của nó là không bị dẫn chuyển, vì nó có tăng thắng, không thể bị dịch chuyển bởi cái khác”. Khi mình “nhớ Phật” (tức là niệm Phật) là mình ghi dấu ấn Đức Phật cùng với những phẩm tính vô cùng thù thắng, hy hữu của Ngài lên tâm thức của mình. Tâm thức một khi đã “xác định”, đã duy trì dấu ấn Đức Phật, cũng như cảnh giới Tây phương Cực lạc rồi thì không có gì dẫn chuyển tâm của mình đi về hướng khác được; nó nhất định đưa mình tới Niệm - Định - Tuệ, và nhất định thành Phật.

Như vậy, tuần tự của quá trình tu tập Pháp môn Niệm Phật nói riêng, tu học theo Phật pháp nói chung, để đạt được định, từ định mà có tuệ thì lộ trình của nó  phải là: Dục - Thắng giải - Niệm - Định - Tuệ.

Lẽ hẳn nhiên là mình không thể “niệm”, tức là không thể nào “nhớ” được cảnh giới mà mình chưa từng nhìn thấy, chưa từng tiếp nhận, chưa từng được ghi dấu trong tâm thức. Đối với những cảnh giới, những hình ảnh, những sự kiện mình mới nghe qua, thấy qua… một đôi lần mà không ấn tượng gì thì mình cũng khó nhớ, hoặc nhớ một cách mơ hồ, tức là tâm sở niệm không thể phát sanh. Tâm sở niệm không phát sanh thì không có định; nếu niệm mơ hồ thì cũng khó đắc định.

Đây là lý do vì sao chúng ta phải học thuộc lòng kinh A-di-đà. Học thuộc lòng để cảnh giới Tây phương Cực lạc được giới thiệu trong kinh in sâu vào trong tâm, làm cơ sở cho tâm niệm loại suy ra cảnh giới đó, để khi nghe đến tên kinh, nghe đến thất trùng lan thuẫn, thất trùng hàng thọ, thất trùng la võng, hoa sen lớn như bánh xe v.v… thì cảnh giới Tây phương Cực lạc lập tức hiện tiền trước mắt liền. Danh hiệu của Phật A-di-đà cũng vậy, chúng ta phải huân tập, phải niệm làm sao mà khi tâm vừa khởi niệm hay nghe đến danh hiệu Phật A-di-đà thì lập tức hình ảnh của Phật A-di-đà đầy đủ tướng hảo, công đức thù thắng, bổn nguyện độ sanh… đều hiển hiện rõ ràng trong tâm, như thấy trước mặt, thì như vậy là niệm Phật thành công.

Như vậy, với một người suốt đời không tin Tam bảo, tạo tội ngũ nghịch, làm mười việc ác… gây đủ mọi thứ tội lỗi thì hẳn là chưa từng huân tập hình ảnh và công đức của Phật, tức là đối với cảnh mà thể và loại của nó chưa hề được tiếp nhận, thì người ấy không thể niệm Phật được, vì tâm sở niệm hoàn toàn không phát khởi. Nói một cách khác, đối với một người chưa bao giờ biết đến chùa, chưa từng tụng kinh, niệm Phật, thì hẳn chưa từng biết đến thế giới của chư Phật, chưa từng biết có cảnh Tây phương, cũng không hề biết có Phật A-di-đà, tức là họ chưa từng huân tập những hạt giống Tây phương Tịnh độ, thì đối với những người này không thể niệm Phật được.

Giả sử có người đã từng đi chùa, cũng có đôi ba lần tụng kinh, niệm Phật, cũng từng nghe nói đến thế giới Tây phương Cực lạc, nghe nói đến công đức của Phật A-di-đà, tức là đã từng được tiếp nhận đối tượng, nhưng những đối tượng đó không được ghi nhận rõ ràng, thì tâm sở niệm cũng không phát sanh, người ấy cũng không thể niệm Phật được.

Để đạt được định thì bắt buộc phải tu niệm, do niệm mà dần đi vào định. Trong kinh có nói, tâm của chúng ta phiền não tán loạn, khi nghĩ cái này khi nghĩ cái kia, không một sát-na dừng nghỉ, cho nên cần phải cho nó một đối tượng để cho nó duyên vào đó, để cột nó lại, khiến cho nó từ từ an trụ. Cũng giống như con trâu cứ chạy đông chạy tây, nếu mình lấy sợi dây xỏ mũi và cột nó lại dưới gốc cây, bấy giờ nó có chạy cũng chỉ chạy lui chạy tới một chỗ dưới gốc cây thôi, chạy một hồi nó sẽ mệt, nó sẽ dừng lại và sẽ nằm xuống. Cái tâm của mình cũng giống như vậy, nếu mình buộc nó vào một chỗ thì từ từ nó sẽ đi vào định.

Không những mình tu định cần phải có niệm, mà ngay cả khi tu quán, tu huệ cũng cần phải có niệm. Cho nên, ở trong Phật pháp, niệm là một pháp vô cùng quan trọng. Niệm có nhiều loại, tùy theo đối tượng mình niệm mà có tên gọi khác nhau, như niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Tứ đế…

Bây giờ mình nói niệm Phật, tức là lấy Đức Phật làm cảnh giới, làm đối tượng để mà niệm, mà nhớ. Khi mình niệm Phật thì tâm của mình chuyên chú vào danh hiệu Đức Phật hoặc cảnh giới của Phật, niệm cho đến khi đắc định thì gọi là niệm Phật tam-muội. Nhưng mà phải niệm cho thật chuyên chú, chứ nếu niệm không chuyên chú thì cái tâm sở niệm không dễ gì hiện ra rõ ràng, định không dễ gì thành tựu. Nếu có thể làm cho tâm hết tán loạn, tâm không chạy theo những đối tượng khác, mà chuyên chú tập trung vào một cảnh thôi thì tu niệm mới có khả năng thành công.

Trong kinh có nói một thí dụ như sau: Có một người nọ đắc tội với quốc vương, đáng phải xử tử. Bấy giờ quốc vương sai lấy một bát đựng đầy dầu, bắt người tội bưng lấy bát dầu đi ra đường phố đến một địa điểm đã quy định, nếu như anh ta có khả năng giữ bát dầu không rơi ra ngoài một giọt thì quốc vương sẽ miễn tội chết cho. Kẻ phạm tội đó trong khi tính mạng đang bị uy hiếp mà tìm thấy con đường sống, cho nên đã để hết tâm ý vào tay bưng bát dầu. Trên đường đi có biết bao nhiêu màn ca múa hát xướng anh ta cũng không nghe không thấy; có biết bao trò đánh đá cãi vã ồn ào anh ta cũng mặc kệ; cho đến những đoàn xe ngựa chạy tới chạy lui, biết bao cảnh vật xung quanh tác động vậy mà anh ta đều không để mắt tới, chỉ duy nhất tập trung tâm ý vào việc giữ gìn bát dầu sao cho khỏi rơi ra ngoài dù chỉ một giọt. Cuối cùng thì anh ta cũng bưng được bát dầu đi đến nơi quy định mà không để rơi một giọt nào, nhờ vậy anh được thoát khỏi tội chết.

Cũng như anh tử tù, chúng sanh đang bị chìm đắm trong thế gian vô thường, đang bị bức bách bởi sanh tử khổ nạn, đang bị thiêu đốt trong nhà lửa Tam giới... Trong khi sự sống mong manh, vô thường như ngàn cân treo đầu sợi tóc ấy thì mình tìm thấy con đường sống bằng cách niệm Phật, như anh tử tù tìm thấy đường sống bằng việc làm sao bưng bát dầu không bị đổ trên suốt hành trình nghiệp lực quy định. Chúng ta nếu muốn thoát ly sanh tử, thoát khỏi sự trói buộc trong ba cõi thì phải tu niệm, phải buộc niệm cho chuyên tâm nhất ý, không để cho cảnh giới ngũ dục đáng ưa, đáng thích, đáng yêu trói buộc, đối với cảnh đáng sân mà không nổi sân, trong hoàn cảnh biến động, tán loạn mà giữ tâm bất động, như vậy gọi là buộc niệm chuyên nhất. Tham, sân, si… các thứ phiền não không khởi thì tâm sẽ gom về một chỗ, sẽ an trú trong trạng thái yên lặng, trong suốt, tức là đắc định. Có định thì sẽ phát tuệ, từ đó, vô lượng công đức đều được thành tựu.

Ngược lại, nếu không tu niệm, sẽ không được định tâm. Mà tâm không có định thì dù có đọc kinh, học Phật pháp, bố thí, cúng dường, trì giới… đều không thể đạt được công đức thù thắng trong Phật pháp, chỉ có thể đạt được một chút tri thức, một chút phước nghiệp, hưởng phước báo trời người mà thôi.

Xưa nay, người tu theo pháp môn niệm Phật, đại đa số mọi người chỉ biết niệm bằng cái miệng, cũng giống như nhà thiền nói chuyện thiền trên lưỡi, gọi là ‘khẩu đầu thiền’, có rất ít người biết được ý nghĩa thâm sâu của pháp môn niệm Phật. Nếu niệm Phật mà chỉ niệm bằng cái miệng suông, trong tâm không có Phật, không tưởng nhớ công đức của Phật, không quán tưởng về Phật và cảnh giới của Phật thì cũng như máy niệm Phật thôi!

Cho nên, nếu chỉ niệm Phật bằng cái miệng suông, tâm không nhớ Phật thì không thể gọi là niệm Phật được, mà chỉ có thể gọi là ‘kêu tên của Phật’, ‘phụ họa niệm Phật’... Niệm Phật chân chính là phải tâm tâm buộc niệm vào cảnh giới Phật, cột tâm vào danh hiệu Phật, ghi nhớ rõ ràng, không để xao lãng, không để quên mất. Nói một cách đơn giản, niệm Phật là phải nhớ Phật. Phật là người như thế nào, có những công đức gì, tướng hảo trang nghiêm ra sao… mình phải ghi nhớ rõ ràng trong tâm khi đọc đến, nghe đến, niệm đến danh hiệu của Ngài.

Về phương pháp niệm Phật thì chính Đức Bổn sư Thích-ca mâu-ni Phật đã hướng dẫn: “Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, cột niệm ở trước, chuyên tinh niệm Phật, không có niệm tưởng nào khác. Quán hình của Như Lai, mắt không hề rời. Trong khi mắt không rời, niệm tưởng công đức Như Lai”. Đoạn kinh này chỉ dẫn ba cách niệm Phật:

- Chuyên tinh niệm Phật, không có niệm tưởng nào khác là Trì danh niệm Phật hay Xưng danh niệm Phật. Hành giả buộc tâm vào câu Phật hiệu Nam-mô A-di-đà Phật, niệm niệm liên tục, niệm trước tiếp nối niệm sau không dứt, không để bất cứ một ý niệm nào khác xen tạp vào. Niệm như vậy trong vòng năm mười phút mà không bị gián đoạn, không có vọng tưởng, thì đạt được định, gọi là niệm Phật tam-muội. Nếu niệm được từ một đến bảy ngày liên tục không gián đoạn, không xen tạp, nhất tâm bất loạn thì ngay hiện tiền chứng được bất thối chuyển, lúc lâm chung được Phật A-di-đà và Thánh chúng đến đón về Tịnh độ.

- Quán hình của Như Lai, mắt không hề rời là Quán tượng niệm Phật. Hành giả thỉnh một tượng Phật, hoặc hình Phật, hoặc bức tranh Tây phương Cực lạc… thiết trí nơi trang nghiêm. Mỗi ngày để ra năm mười phút ngồi ngay thẳng trước tôn tượng, tập trung tâm ý, mắt nhìn tượng Phật, nhìn thật chăm chú, ngắm nhìn từ nét mặt đến nếp y, hình dáng… sao cho hình ảnh của Đức Phật A-di-đà in đậm trong tâm thức đến nỗi khi rời khỏi Phật điện, đi đến bất cứ đâu và ở bất cứ lúc nào, hễ khởi tâm nhớ Phật, niệm Phật thì lập tức hình ảnh Đức Phật hiện ra rõ ràng trước mắt, lúc nào trong tâm cũng thấy Phật. Trong tâm lúc nào cũng thấy Phật thì bao nhiêu tội lỗi, nghiệp chướng đều tiêu trừ, bao nhiêu công đức thù thắng đều thành tựu, ngay trong hiện đời cảm được pháp lạc vô dư.

- Niệm tưởng công đức của Như Lai là Quán tưởng niệm Phật. Hành giả nhớ nghĩ đến công đức của Phật A-di-đà, Ngài có 48 đại nguyện cứu độ chúng sanh, từ bi nguyện lực sâu rộng… Dù trong đời này hay đời khác, hay trên thiên giới, không có tài bảo vi diệu nào sánh với Đức Như Lai. Ở đây, Phật là tài bảo tối thắng vi diệu. Bằng sự thực này, ước nguyện tất cả đều được an lành, lâm chung đều được sanh về cảnh giới của Phật A-di-đà.

Trên đây là ba phương pháp niệm Phật căn bản, được Tăng Ni, Phật tử thực tập rất thịnh hành ngay thời Phật còn tại thế. Trong các phương pháp niệm Phật, thì phương pháp ‘Xưng danh niệm Phật’ là giản dị nhất.

Nhưng ‘Xưng danh niệm Phật’ tuyệt đối không phải chỉ là xưng niệm trên miệng. Xưa nay chúng ta trì tụng kinh A-di-đà của ngài Cưu-ma-la-thập dịch, trong bản kinh này nói ‘chấp trì danh hiệu’, tức niệm danh hiệu Phật liên tục, không gián đoạn; nhưng trong một bản dịch khác của ngài Huyền Trang thì câu kinh đó là ‘tư duy niệm Phật’, tức thiền quán về danh hiệu Phật.

Từ đó chúng ta thấy rằng, ‘Xưng danh niệm Phật’ tuyệt đối không phải chỉ là niệm Phật bằng cái miệng, mà phải niệm bằng cái tâm, để danh hiệu Phật vào trong tâm, buộc niệm vào danh hiệu Phật rồi tư duy thiền quán. Nhờ xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, và nhờ danh hiệu mà thể hội được công đức, thật tướng của Phật; buộc niệm tư duy về công đức và thật tướng của Phật mới gọi là niệm Phật.

Cho nên, điều quan trọng nhất của hành giả Tịnh độ là khi xưng niệm danh hiệu Phật là đừng bao giờ dừng lại ở chỗ chỉ xướng tụng bằng cái miệng, niệm Phật trên miệng mà trong tâm rỗng tuếch thì không khác gì máy niệm Phật!

Văn Thù Sư Lợi sở thuyết ma-ha bát-nhã ba-la-mật kinh dạy rằng: “Ai muốn nhập vào tam-muội nhất hạnh, nên đến ở một chỗ trống vắng, bỏ hết những loạn ý, không duyên vào tướng mạo, buộc tâm vào một Đức Phật mà chuyên đọc danh tự của Đức Phật ấy; tùy theo phương hướng xứ sở của Đức Phật ấy mà ngồi thẳng xoay mặt về phương hướng xứ sở đó”.

Đoạn kinh trên cho thấy, nếu hành giả niệm Phật muốn đạt đến cảnh giới nhất tâm bất loạn thì phải ‘đến ở một chỗ trống vắng, bỏ hết những loạn ý, không duyên vào tướng mạo (bên ngoài), cột tâm vào một Đức Phật, chuyên niệm danh hiệu Phật ấy’. Nếu hành giả muốn vãng sanh Tịnh độ của Phật A-di-đà thì phải ngồi ngay thẳng, xoay mặt về hướng Tây, chuyên niệm danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’.

Để niệm Phật dễ đắc định, hành giả vừa niệm vừa nghe lại âm thanh niệm Phật của mình. Phương pháp này gọi là phản văn niệm Phật, cũng gọi là Kim cang trì. Hành giả niệm thư thả, tiếng không lớn cũng không nhỏ quá, vừa niệm vừa lắng tai nghe lại tiếng niệm của mình từng chữ một: Miệng niệm, tai nghe, tâm tưởng, ba yếu tố này phải đồng thời tương ưng với nhau. Khi niệm Phật phải niệm cho rõ ràng, bình tĩnh, không ồn ào, không hoảng hốt. Quan trọng nhất là, khi niệm Phật không phải niệm bằng cái miệng, mà cần phải lắng tai để nghe âm thanh niệm Phật của mình, nghe thấy rõ ràng, chú tâm mà nghe, tức là trong tâm của mình cũng đồng thời vừa niệm vừa nghe danh hiệu Phật, mỗi niệm mỗi niệm rõ ràng, trong sáng.

Mục đích của niệm Phật là đạt đến cảnh giới nhất tâm bất loạn, mà muốn đạt đến cảnh giới đó cần phải mặc niệm, tức là phải niệm thầm, niệm bằng ý thức, mà nói chính xác là niệm bằng tâm sở tầm và tâm sở tứ, tức niệm bằng ngôn ngữ của ý.

Mặc niệm, hay niệm thầm, còn gọi là Kim cang trì, tức là đem danh hiệu Phật đặt vào trong tâm, niệm bằng ngôn ngữ của tâm, miệng không phát ra âm thanh. Tuy không niệm ra tiếng nhưng tâm lại nghe được tiếng, đó là tiếng nói hay ngôn ngữ của tâm, gọi là ý ngôn, mỗi chữ mỗi câu đều nghe được rất rõ ràng. Niệm Phật bằng cách này thì từ từ tâm sẽ hướng về một cảnh, ngoại duyên từ từ bị cắt đứt, khi đó chúng ta mới đạt được định.

Hai yếu tố tâm sở tầm và tứ rất quan trọng trong quá trình tu niệm. Tầm là nắm lấy danh hiệu Phật, khởi niệm niệm Phật; tứ là duy trì chánh niệm trong suốt quá trình niệm Phật, tức là khi nào cũng ý thức, chánh niệm, tỉnh giác biết rõ mình đang niệm Phật, chỉ có tâm với danh hiệu Phật, ngoài ra không có bất kỳ một ý niệm nào khác.

Niệm Phật theo cách này thì chỉ cần năm mười phút là mình có được hỷ lạc liền, như trong kinh Phật nói: “Một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ”.

Thích Nguyên Hùng

________________

(1) Có hai loại đối tượng (cảnh): đối tượng được nhận thức trực tiếp, gọi là thể cảnh. Đối tượng nhận thức do loại suy, gọi là loại cảnh.

http://giacngo.vn/phathoc/luockhao/2013/04/22/334443/

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Bánh mì chuối nướng – Kenny Vo

21042013 042

Kenny làm bánh mì chuối nướng hôm qua. Ngon quá chừng, hai cô cháu trong vòng 15 phút mà đã ăn hết nửa ổ. Smile

Nguyên liệu

  • 4 trái chuối già chín, bóp nát (Kenny học trên mạng là cắt 1 chút phần đuôi của chuối rồi từ từ nặn ra)
  • 1/3 cup bơ, làm cho chảy ra (bằng cách microwave 1/2 phút, có thể thay thế bằng 1/3 cup dầu ăn nếu cữ bơ)
  • 1/2 cup đường
  • 1/4 cup egg beaters (hay 1 cái trứng, hay 1 muỗng canh flax seeds xay + 3 muỗng canh nước nếu cữ trứng)

eggbeater 002

  • 1 muỗng cà phê vani

eggbeater 005

  • 1 muỗng cà phê baking soda

baking-soda

  • 1/8 muỗng cà phê muối
  • 1 + 1/2 cups bột mì

Cách làm

1. Vặn lò 350 độ F (175 độ C)

2. Cho chuối và bơ vào tô lớn, quậy đều bằng cái muỗng lớn bằng gỗ

3. Trộn đường, trứng, và vani vào tô cho đều

4. Rắc muối và baking soda vào tô

5. Cuối cùng trộn bột vào tô cho đều

6. Thoa dầu hay bơ vào khuôn 4X8 inch

7. Nướng 1 tiếng

8. Lấy ra khỏi lò, để lên vĩ cho nguội

9. Lấy bánh ra khỏi khuôn, cắt lát và xơi

21042013 041

Nướng bằng khuôn glass nên nó hơi vàng và bị nứt

Kenny Vo

Nguồn tham khảo:

http://www.simplyrecipes.com/recipes/banana_bread/

Ốc đảo tự thân – Chương 14: Nhiều Giọt Nước Sẽ Làm Đầy Hồ

ayya-khemaokPHƯƠNG PHÁP LUYỆN TÂM THANH TỊNH
Tác Giả: Ni Sư Ayya Khema - Việt Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
Dịch từ bản tiếng Anh: Be An Island The Buddhist Practice of Inner Peace
Wisdom Publications 1999
Nhà xuất bản PHƯƠNG ĐÔNG 2010
Những Điều Cốt Lõi
 

Chánh tinh tấn trong Bát Chánh đạo, rất quan trọng trong các hoạt động đời thường cũng như trong sự thực tập cho đời sống tâm linh.  Nhưng ta thường hiểu sai về chánh tinh tấn, gây ra nhiều trở ngại.  Phần đông chúng ta ở một thái cực khác là quá ít tinh tấn.

  Chánh tinh tấn có nghĩa là dốc hết cả thân tâm vào việc gì.  Mỗi chúng ta đều có những khả năng khác nhau, nên chỉ có ta mới biết rõ khả năng hoàn thiện nhất của mình.  Mỗi tối, trước khi vào giường, ta hãy ôn lại những việc xảy ra trong ngày, và tự hỏi mình: Hôm nay, làm việc ấy, tôi đã có cố gắng chưa?  Đã cố gắng hết sức mình hay chỉ làm cho có lệ?  Hôm nay tôi đã tự kỷ luật mình, khe khắc hơn hôm qua không?  Tôi có cố gắng dậy sớm hơn thường lệ vài phút không?  Đã cố học thêm hai câu kệ?  Đã cố ngồi yên hay quán tưởng lâu hơn không?  Hôm nay tôi đã cố gắng giảm bớt những ý nghĩ bất thiện không?  Chúng ta không cần phải hỏi ai là những cố gắng của mình có đúng không.  Tự chính ta phải biết rõ điều đó.

   Nhiều giọt nước làm đầy hồ, cũng như cuộc đời là những chuỗi sự cố nhỏ.  Những biến cố trọng đại chỉ xảy ra một đôi lần trong đời, nhưng có bao nhiêu việc nhỏ vẫn xảy ra sớm tối mỗi ngày.  Sự nỗ lực của ta cũng giống như những giọt nước làm đầy hồ: rất nhỏ nhoi nhưng mỗi ngày lại hơn hôm qua một ít.  Dần dần hồ nước sẽ đầy.  Sẽ có ngày với nỗ lực cuối cùng, ta có thể hoàn toàn buông bỏ các ảo tưởng về ngã.  Nhưng điều đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra, nếu mỗi ngày ta không cố gắng thêm chút ít, dù cái thêm đó rất nhỏ nhoi.

   Chúng ta rất thích tìm kiếm các lạc thọ, luôn đòi hỏi sự thoải mái.  Trái lại khi phải nỗ lực, cố gắng hơn ta không thấy thoải mái.  Lo lắng làm sao để đưọc thoải mái không đem lại điều gì lợi ích. Không quan trọng gì cả.  Ngược lại, nó làm giảm lòng tinh tấn của ta.  Nếu thỉnh thoảng, ta không biết hy sinh những sự thoải mái, tiện nghi của riêng cá nhân mình, dần dần ta sẽ đánh mất hết mọi cảm hứng, không còn động cơ thúc đẩy ta hành động nữa.  Nếu không bao giờ ta muốn vượt lên giới hạn của mình, cuối cùng ta sẽ đánh mất mục đích, và chỉ muốn đi tìm sự tiện nghi.  Tuột dốc bao giờ cũng dễ hơn trèo lên cao.  Luật tỉ trọng không chỉ chi phối thân mà cả tâm ta nữa.

   Sự nỗ lực, dù nhỏ, cũng mang đến cho ta niềm vui lớn.  Hãy thử nhớ lại một ngày mà ta bằng lòng với mọi thứ, chẳng phải cố gắng gì, với một ngày ta đã có những nỗ lực và đã thành công.  Không nên để một ngày trôi qua mà không quán xét lại.  Nếu không, làm sao ta có thể biết đưọc gì là quan trọng và gì là không?

   Chỉ có giây phút ngắn ngủi này hiện hữu, và đó là hiện tại.  Còn tương lai chỉ là cái bóng của trí tưởng tượng.  Vì khi tương lai xảy ra, nó trở thành hiện tại.  Tương lai chẳng bao giờ xảy ra như ta mong muốn vì người tưởng tượng ra nó và người thực sự kinh nghiệm nó, không phải là một.  Vẽ vời với tương lai hay đắm chìm trong quá khứ, đều là những việc làm mất thời gian.  Quá khứ đã qua rồi không trở lại.  Nếu ta đã lầm lở trong quá khứ, thì hãy học từ kinh nghiệm đó mà không tái phạm -có lẽ đó là sự hồi tưởng đáng làm nhất.  

   Chúng ta chỉ có thể sống ngay giờ phút hiện tại.  Khi bắt đầu một ngày, giống như ta có cả cuộc đời trước mặt.  Mỗi buổi sáng, chúng ta như vừa đưọc tái sinh, tươi trẻ, sáng suốt, và qua suốt một ngày, chúng ta sống với đủ thứ loại tình cảm trong đời -yêu, ghét, lo lắng, phiền não, sợ hãi, nhẫn nhục, bi thương.  Tất cả mọi thứ đó xảy ra chỉ trong một ngày, và nếu trong ngày đó ta không nỗ lực để làm gì cả, thì ta phung phí thời gian biết bao.  Nếu để tất cả thành thói quen như thế, dẫn đến sự phung phí cả một kiếp con người quí báu.

   Theo lời Đức Phật dạy, cõi người là cõi thích hợp nhất để đạt Giác Ngộ.  Ở cõi này, có khổ đau để  nhắc nhở con người tu tập, nhưng cũng có cả các dục lạc (sukkha) làm cân bằng cuộc sống.  Nhưng các dục lạc cũng dễ đưa con người đến những suy nghĩ sai lầm, như nếu khéo xoay sở, họ có thể đi từ lạc thú này đến niềm vui khác mà không phải nếm trãi khổ đau.  Đó là tà kiến.  Dầu gì, đây cũng là cõi thích hợp nhất để đạt đưọc Giác Ngộ tâm linh, vì tâm chúng ta có thể được giải thoát khỏi mọi cấu uế.  Nhưng nếu không có sự tinh tấn, nỗ lực thì điều đó khó thể xảy ra.

   Đôi khi có những nỗ lực làm kiệt sức con người nhưng lại không đúng, vì quá chấp vào kết quả.  Mong cầu đạt đưọc kết quả đem đến sự lo âu, căng thẳng, khiến ta bị nhức dầu, đau lưng, lo âu và trạo cữ.  Lòng mong muốn thường dẫn đến thất vọng.  Nếu trong đầu ta, lúc nào cũng nghĩ đến kết quả, ta sẽ không chú tâm vào công việc đang làm.  Nhưng nếu ta buông bỏ, không để ý đến những gì ta sẽ đạt đưọc, mà dốc toàn tâm toàn trí vào công việc phải làm, nỗ lực không ngừng thì ta sẽ dễ thành công mà không tạo ra căng thẳng.

   Nhiều người bị nhức đầu lúc ngồi thiền, liền kết luận rằng ngồi thiền không tốt.  Nhưng họ quên nghĩ rằng có thể do họ nỗ lực không đúng chỗ.  Có thể do sự quá mong cầu đưọc định, khiến họ không thoải mái, và không đạt đưọc tiến bộ nào trong thiền định.

   Sự nỗ lực có phần thưởng của riêng nó: lòng vui mừng vì mình đã có cố gắng, và điều đó đem lại cho tâm thêm sức mạnh.  Như chúng ta biết, khi luyện tập thân thể, ta vận động cơ bắp, tập cho thân thể chống lại mỏi mệt, kết quả là ta có niềm vui vì đã có thể thực hiện đưọc những việc khó thực hiện.  Đối với tâm cũng thế.  Ta vận động tâm, bằng cách bắt nó phải nỗ lực thêm từng chút mỗi ngày, và nếu cứ tiếp tục như thế, tâm ta sẽ luôn vững mạnh.  Nếu ta buông thả sau đó, thì tâm như một sợi dây thun, lại rút về chỗ cũ.  Nhưng nếu cứ tiếp tục thực tập, sẽ có ngày tâm sẽ không đàn hồi nữa.  Nó trở thành mềm nhuyễn, dễ điều phục, độ lượng và bắt đầu có thể nhìn thấu suốt, bao trùm các kinh nghiệm vũ trụ, hơn là chỉ chăm chăm chấp vào cái không gian nhỏ bé mà mỗi cá nhân của chúng ta chiếm hữu.

   Nỗ lực phải kiên trì, và không đưọc thay đổi ngày thì quá sức, ngày thì không làm gì cả.  Thiếu sự kiên trì, dễ khiến ta nản lòng, chán nản, thương thân.  Kiên trì nỗ lực -ngày qua ngày, phút này qua phút khác, và tự xét lại mỗi ngày xem minh có tiến bộ hơn ngày hôm trước không- làm được như thế mang đến cho ta niềm vui.  Nếu chúng ta học một vài chữ mỗi ngày, dần dần ta sẽ thuộc cả bài kinh tụng.  Một phút thiền định mỗi ngày kết quả được một giờ thiền định trong hai tháng.

   Trở ngại chính là lòng tham muốn lạc thọ, nhất là dục lạc.  Các cảm thọ này lúc có, lúc không.  Căn bản là có ba loại cảm thọ: vui, khổ và không vui, không khổ.  (Dầu không vui, không khổ, nhưng cảm thọ này cũng nghiêng về lạc thọ, vì nó không khiến ta đau khổ).  Bản năng sinh tồn khiến ta bám víu vào các lạc thọ và xa lánh, trốn tránh khổ thọ.  Nhưng vì không thể kéo dài các lạc thọ, lòng ham muốn khiến ta bận rộn đuổi tìm chúng suốt cuộc đời, và đó là lý do dẫn ta trong luân hồi sinh tử.  Đó là một cuộc kiếm tìm vô vọng, vì thế nếu ta càng sớm nhận biết điều đó, để buông bỏ, ta càng sớm có thể tự hào nói rằng mình đang sống theo chánh pháp.

   Qua những nỗ lực không ngừng, ta cảm thấy mạnh mẽ hơn và cảm nhận đưọc những niềm vui trong nội tâm vì biết rằng mình đã dốc hết sức lực vào việc tìm kiếm Giác Ngộ giải thoát.  Không có gì so sánh đưọc với chúng trong đời này.  Tất cả những thứ khác ta làm chỉ vì mục đích sinh tồn, dầu có cần thiết, nhưng không đem lại niềm vui.

   Dầu làm gì, viết sách hay gọt một củ cà-rốt, điều quan trọng là chúng ta đã thực hiện chúng như thế nào.  Đa số cho rằng viết sách thì quan trọng hơn gọt rau củ nhiều.  Nhưng bất cứ khi nào chúng ta hành động với tất cả tâm chánh niệm, không mong cầu kết quả -điều này dễ làm với củ cà rốt hơn là viết quyển sách- là chúng ta đã hành động theo lời dạy của Đức Phật.  Đó không phải là Tôi đang làm gì, chỉ là có những việc cần đưọc thực hiện.  Đó là một mẫu mực đo lường hữu ích đối với tất cả mọi việc.  Một khi có 'cái tôi' bước vào sân khấu là có chuyện, là tạo nên bao sóng gió cảm xúc, khiến tâm khó có thể bình an, tĩnh lặng.

   Nếu chúng ta quán sát các hành động của mình, ta sẽ nhận thấy tất cả là do thói quen.  Thói quen tạo nên bởi bản năng, bởi tham ái, và cũng bởi lòng tin khó lay chuyển vào cái tôi của mình.  Nhiều người ảo tưởng rằng họ làm chủ cuộc đời của họ, vì họ có tư duy và tâm trí họ sáng suốt.  Thực ra tất cả chỉ là những phản ứng.  Nếu chúng ta thực sự làm chủ, như một vị A-la-hán, thì chúng ta đã chẳng bao giờ thấy đau khổ, lo lắng, sợ hãi hay tức giận.  Nếu tự ý, tự chủ hành động như thế thì thật là ngu si.

  Khi chúng ta trở nên tỉnh giác hơn, ta sẽ nhận thức được rằng các phản ứng của ta là tự phát, tự khởi, không vì lý do gì cả.  Những khám phá này sẽ khiến ta ngạc nhiên về chính mình, và nhất định ta sẽ không để chúng tiếp tục xảy ra.

   Sự tỉnh giác này đòi hỏi ta phải nỗ lực mỗi ngày, cố gắng từng phút giây, làm sao để hôm nay phải nhích hơn hôm qua một ít.  Dần dần cả ngày là một chuỗi nỗ lực đáng tán thán, chứ không phải là những bổn phận bó buộc.  Một khi ta cảm thấy hưng phấn, ta sẽ đi tới giống như chiếc xe bao ngày bị ngưng trệ lại lăn bánh đi tới.  Làm sao để nó không bị ngưng trệ nữa, đó mới là điều khó, nhưng một khi bánh xe đã bắt đầu lăn, thì tốc độ sẽ đẩy nó tới mãi.  Động cơ thúc đẩy phải đến từ bên trong, và nếu chúng ta có tri giác, chúng ta sẽ tự nhủ là :"Tôi thành tâm muốn đưọc giải thoát khỏi khổ đau", chứ không phải là "Tôi cầu luôn được sung sướng".  Cầu như thế sẽ không bao giờ đưọc toại nguyện, vì làm sao lúc nào cũng đưọc sung sướng, và chỉ ý mong cầu đưọc sự tiện nghi, dễ dải cũng đã làm nhục ý chí phấn đấu của ta.  Muốn đưọc giải thoát khỏi khổ đau, đòi hỏi ta phải nhận ra đưọc điều đó và thay đổi.  Những điều này đem lại cho ta niềm vui vì ta tự biết mình đang chiến đấu cho những lý tưởng cao đẹp nhất.

   Nếu chúng ta suy nghĩ, hành động, nói năng với tâm chánh niệm, luôn chú tâm đến thân và tâm, đó là chúng ta tự củng cố thêm sự hành thiền của mình, bắt đầu thấu hiểu đưọc các ảo tưởng về mình.  Chúng ta bắt đầu hiểu đưọc các hành động mà không có người hành động.  Chỉ có hành động là đáng kể -động lực chân chính của ta- chứ không phải là các kết quả.  

   Khi chúng ta biết tự hỏi mình: "Tại sao tôi đau khổ?  Điều gì đã làm tôi thất vọng?" chứ không vội vàng phản ứng, thì mỗi ngày đều là một ngày vui sống.   Nếu không, ta đã suy nghĩ sai.  Mỗi ngày là để tạo mọi nỗ lực chiến thắng cái ngã.  Nóng hay lạnh, ướt hay khô, ngon hay dở- không có gì khác.  Tất cả mọi nỗ lực đều dồn cho một mục đích: hiểu thấu đưọc các ảo tưởng về một người chủ của thân và tâm.

   Mỗi chúng ta phải tự đánh giá sự tinh tấn của chính mình.  Chúng ta không thể bảo với người khác rằng: 'Anh không nỗ lực đủ' hay "Anh đã cố gắng nhiều rồi".  Tất cả chúng ta đều có những khả năng, khuynh hướng, những trở ngại, nhân quả khác nhau, nhưng ta cần phát huy các khả năng tối ưu của mình.  Thường con người chưa sử dụng hết mọi nỗ lực của mình.

   Các khía cạnh tâm và sinh lý của chúng ta gắn bó với nhau.  Thí dụ, để tọa thiền, ta ngồi xuống, là một động tác của thân để củng cốù cho các nỗ lực tinh thần của ta.  Chánh niệm gắn bó thân và tâm với nhau.  Vì có thân và tâm, ta thường ảo tưởng rằng chúng là 'ta'.  Tuy nhiên khi chúng ta nhận thức đưọc rằng 'cái tôi' là nguyên nhân của khổ đau, ta sẽ thất vọng về sự có mặt của nó, và sẽ không muốn bám víu vào nó.  "Cái tôi' đó luôn suy tư, luôn tạo ra các cảm thọ, làm xáo trộn tâm ta.

   Bớt tôn vinh 'cái tôi' là bước đầu đưa đến sự buông xả ngã chấp, là một nỗ lực lớn.  Chỉ cần có nỗ lực thôi, ta cũng đã trên đường tiến tới mục đích đó.  Khi nào ta dồn hết tâm sức vào việc thiện, 'cái tôi' thường phải cúi đầu.

   Hãy nhớ mỗi tối kiểm tra lại ta đã sống như thế nào trong ngày hôm đó.  Chúng ta có nỗ lực làm việc tốt không, hay chỉ để thời gian quý báu trôi qua?  Có tưởng nhớ đến Pháp thường hơn không?  Tuy nhiên, đừng có thái độ đổ lổi, buộc tội ai hay hoàn cảnh nào, nếu ta có thiếu sót.  Ngày hôm sau, một bắt đầu mới, ta có thể làm lại từ đầu.

   Sống như thế, mỗi ngày là một niềm vui.  Ta sẽ không còn cảm giác chán nản, chỉ mong ngày mau qua đi.  Vì mỗi giờ, mỗi phút giây qua đi, đều mang lại lợi ích và niềm vui cho ta.

   Niềm vui là một yếu tố quan trọng trong đời sống thánh thiện, giống như bột nổi với bánh mì.  Không có niềm vui, đời sống thánh thiện của ta sẽ khó thể vươn lên tuyệt đỉnh.  Vì thế, hãy sử dụng từng giây phút, và từng nỗ lực trong chánh niệm.

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-8066_5-50_6-1_17-543_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Mít Non Kho Đậu Hũ - Kim

IMG_1205

1. 3 lon mít non khui ra bỏ nước đi, sau đó rửa lại nước lạnh cho thật sạch, để ráo.

Mit non
2. Chiên sơ mít non (khi chiên sơ mít thì mình kho mít dai, ngon không bị bể, vỡ nát hay bị nhũn) khi thấy mít hơi vàng thì vớt ra để trên miếng napkin cho rút bớt dầu, xong bỏ vô 1 cái tô lớn.

3. Boa rô băm nhuyễn

4. 1 miếng đậu hũ chiên, cắt đậu hũ lớn tương tự như mít

5. Cho đậu hũ vào tô mít ướp gia vị gồm:

  • 1/2 muỗng cà phê muối
  • 1 muỗng cà phê đường cát
  • 1 muỗng cà phê bột nêm chay
  • 1/2 muỗng cà phê tiêu
  • 2 muỗng canh nước tương
  • 1 muỗng canh dầu hào chay (có dầu hào chay kho mới ngon)
  • 1 muỗng canh boa rô băm nhuyễn

6. Trộn đều lên, ướp khoảng 30 phút cho thấm.

IMG_1203

7. Bắc chảo cho nóng, cho một muỗng canh dầu ăn vào, xong cho 1 muỗng canh boa rô băm nhuyễn vô phi cho thơm, cho tất cả đậu hũ mít non mình đã ướp gia vị vào, đảo đều cho đậu hũ &mít non rút gia vị, khi tất cả đã rút gia vị, cho 1 lon nước coco rico (soda nước dừa) vào, để cho nó ngon thơm và đâm đà có vị hơi ngọt ngọt.

IMG_1204

8. Vặn lửa lớn lên, đảo đều để cho đậu hũ &mít non thấm nước coco rico, bỏ vài trái ớt hiểm  vô kho luôn cho thấy có màu đỏ hấp dẫn chút xíu. Khi nước còn sền sệt, nhớ nếm gia vị lại một lần nữa cho vừa ăn trước khi mình nhắc ra. Vị mít non kho đậu hũ là hơi mằn mặn ngọt ngọt. Múc ra dĩa cho tiêu lên mặt. Món này ăn với 1 chén nước tương với vài lát ớt thì ngon lắm.

Chúc các bạn nấu được nhiều món chay ngon miệng nhé.

Kim

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

Tofurky sandwich - Kenny Chung

Tofurky Sandwich

Hôm nay Kenny làm Tofurky sandwich thấy cũng dễ, chỉ có 5 phút là xong rồi. Đây là công thức:

1. Bánh mì miếng vuông mua loại nào cũng được, nhưng Kenny dùng loại  wheat bread

IMG_1193

2. Nướng 2 lát bánh mì cho vàng, lấy bánh mì bỏ ra  dĩa.

3. Trét vegenaise vào 2 lát bánh mì, xong xếp vào môt lát bánh mì, 1 miếng xà lách, 1 miếng swiss chesse, khoảng 3 miếng tofurky gấp làm hai, 2 miếng tomato,3 lát dưa leo,  4-5 miếng  avocado xắt lát, rồi bỏ Broccoli Sprouts (giá của hột Broccoli) lên trên.

IMG_1192
4. Đặt lát bánh mì  còn lại lên trên bánh sandwich.

Vậy là đã có món sandwich ngon for lunch.

Kenny Chung

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

Cải xoăn (Kale) xào gừng và thành phần dinh dưỡng – Diệu Sương

kalexao

kale

Cải xoăn là một trong những loại cải có nguồn dinh dưỡng cao nhất thuộc họ Crucifer (bắp cải). Cải xoăn có khả năng làm giảm máu mỡ đặc biệt là nếu mình nấu chín bằng cách hấp. Thành phần chất xơ của cải xoăn khiến chất acid của mật tiết ra dễ dàng hơn và kết quả là hạ đươc máu mỡ. Ngoài ra cải xoăn còn có lợi ích làm giảm nguy cơ gây ung thư bàng quang, vú, ruột, và tuyến tiền liệt. Và cải xoăn được công nhận là giúp cho hệ thống giải độc trong cơ thể. Cải xoăn cũng  có chất chống oxy hoá và chất chống viêm mãn tính...

 Thành phần dinh dưỡng của 1 cup cải xoăn nấu chín (130 grams) 

Dinh dưỡng

vitamin K

vitamin A

vitamin C

manganese

fiber 

copper 

tryptophan

calcium

vitamin B6 

potassium

iron

magnesium

vitamin E 

omega-3 fats

vitamin B2

protein

vitamin B1 

folate

phosphorus

vitamin B3

Calories (36)

% lượng cần mỗi ngày

1327.6%

354.1%

88.8%

27%

10.4%

10%

9.3%

9.3%

9%

8.4%

6.5%

5.8%

5.5%

5.4%

5.2%

4.9%

4.6%

4.2%

3.6%

3.2%

2%

Cách tốt nhất để bảo đảm dinh dưỡng là cắt lá cải xoăn ngắn 1/2 inch và cọng 1/4 inch rồi hấp 5 phút. Cải xoăn sống cũng hạ được máu mỡ nhưng không bằng cải xoăn hấp (nhưng ai mà ăn sống loại cải này chứ hả). Còn ai không có vấn đề với máu mỡ thì có thể xào với dầu ô liu và gừng (hay tỏi) cho dễ ăn hơn.

DS xào lửa cao với dầu ô liu, gừng và muối, hoàn toàn không có cho chất ngọt mà nó có vị ngọt, dai dai, bùi bùi, ăn rất là ngon. Nhiều khi mình thấy lá cải dầy cứng mình tưởng nó cứng ngắt làm sao mà ăn. Vậy mà khi xào ra ngon lắm đó nhe, các bạn nhớ mua về nấu ăn thử nhé.

Thấy bảng dinh dưỡng của cải xoăn mà thích nó luôn. Chẳng hạn như ăn 1 cup cải xoăn mà mình có đến hơn 1300% lượng vitamin K cần thiết trong ngày. Vitamin K giúp máu đông đặc bình thường, bảo vệ xương, ngăn ngừa mất xương sau mãn kinh, ngăn ngừa vôi hoá động mạch, chống ung thư gan và tuyến tiền liệt.

Hôm nay mình học về cải xoăn và vitamin K thôi, học ít cho nhớ dai.

Chúc các bạn nấu được nhiều món với cải xoăn.

Nam Mô A Di Đà Phật.

____________________

Nguồn tham khảo:

http://www.whfoods.com/genpage.php?tname=foodspice&dbid=38

http://whfoods.org/genpage.php?tname=nutrient&dbid=112